Văn hoá

Chữ và nghĩa: "Ba mươi sáu thứ chim"

11/03/2026 17:38 GMT+7 Google News

Nếu phải thống kê trên đời này có cả thảy bao nhiêu loài chim, có lẽ đến Tết cũng không xong. Tuy nhiên cứ theo như dân ca quan họ, ta cũng có thể biết được con số cụ thể:

"Trên rừng ba mươi sáu thứ chim

Có chim loan phượng, có chim chích chòe".

Tuy nhiên, xin đừng quên, ngày xưa, người ta quy ước ba mươi sáu là số nhiều, không xác định, chứ không phải con số cụ thể.

Trong số nhiều loại chim, tùy bút của nhà văn Vũ Thị Huyền Trang viết về chim mồi, có đoạn: "Không những gáy khỏe, gáy hay mà còn phải ung dung tự tại mới dẫn dụ nổi những cánh chim tự do sà xuống. Tôi cứ thắc mắc hoài con chim mồi mỗi khi cất tiếng gáy liệu nó có biết là mình đang dẫn đồng loại của mình vào bẫy? Hay là nó vô tư cất tiếng gáy bản năng, tiếng của ước vọng tự do, tiếng của mừng vui gặp bạn?".

Chữ và nghĩa: "Ba mươi sáu thứ chim" - Ảnh 1.

Ảnh minh hoạ: Internet

Chuyện này diễn ra là do ngày trước những người đi "gác cu" láu cá nhốt sẵn con chim mồi trong bẫy lưới. Nó vô tư hót véo von, khiến những con chim khác nghe khoái quá nên hào hứng bay vào cùng hùa theo đồng ca hợp xướng. Nghe ra rôm rả lắm. Nào ngờ, lúc ấy, người bẫy chim chỉ việc giật bẫy, lưới đổ ập xuống. Tóm cả bầy. Dễ dàng quá, phải không? Không đâu, con chim mồi này xuất hiện trong thú vui mà ông bà ta đã cảnh báo:

"Trên đời có bốn cái ngu

Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu".

Muốn gác cu phải có chim mồi. Mồi có nhiều nghĩa, ta thử liệt kê: Mồi là thức ăn dùng nhử bắt loài vật, thí dụ: "Ai về nhắn với ông câu/ Cá ăn thì giựt để lâu hết mồi" (ca dao); là đồ ăn mà cầm thú kiếm được để ăn hay nuôi con: "Chim bay về núi tối rồi/ Không nơi chim đậu, không mồi chim ăn"; là thức nhắm để uống rượu của các đệ tử Lưu Linh, của kẻ cùng hội cùng thuyền với Chí Phèo. Do "mồi" hiểu theo nghĩa này, giới cuốc lủi ba xị đế mới có tứ "phá mồi", tức là khi lai rai mà ai đó chỉ chăm bẳm ngốn thức ăn, còn rượu thì nâng ly không khác gì… "thằn lằn uống nước cúng"!

Ngày xưa trong Nam có từ "làm mồi", nghĩa là mình đứng cửa giữa, đem cái gì đó làm mồi để nói chuyện ràng buộc đôi bên; lại thêm thí dụ mình như nhà gái khi đồng ý nhận/ chịu ăn lễ vật nhà trai thi trường hợp này gọi là "chịu mồi".

Thế nhưng mồi trong chim mồi, ta hiểu thế nào mới đúng?

Tôi nghĩ, mồi ở đây chính là "con mồi" nói chung, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: "Con mồi: Đứa làm mà nhử, mà nói sự gì, làm cho kẻ khác phải xiêu, phải nghe lời. Chim mồi: Chim dùng mà nhử chim khác, làm nó mắc bẫy, cũng hiểu về người". Về sau "chim mồi" trở thành tiếng lóng nhằm chỉ ai có bản chất A nhưng lại đóng vai trò như B để dụ khị, lôi kéo, khiến B tưởng thật mà sập bẫy. Hạng người lừa đảo xấu xa, bỉ ổi đó đã bị ông bà ta điểm mặt chỉ tên là thứ "Chó mái chim mồi" - câu tục ngữ này hiểu rộng ra còn chỉ bọn cam tâm làm tay sai như chó săn, chim mồi mà làm hại đồng loại.

Lê Minh Quốc

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm