Tục ngữ có câu: "Già đời còn mang áo tơi chữa cháy", dùng để chỉ những ai sống tới già, đã già rồi mà vẫn còn làm việc dại dột.
Xem chuyên đề Chữ và nghĩa TẠI ĐÂY
Áo tơi kết bằng lá để mặc che mưa: "Trời mưa thì mặc trời mưa/ Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi". Áo tơi dễ bắt lửa mà mặc lúc chữa cháy, chẳng dại là gì? Già, càng già, càng tinh khôn, sắc sảo có câu:
"Già này già đắng già cay
Già gừng, già quế, già say lòng người"
Với từ "già", ta biết nó không những chỉ về tuổi tác, thời gian, mà còn thể hiện một hành động, trạng thái quá mức trong việc làm nào đó đều dẫn đến cái sự hỏng bét. Bằng chứng có câu "Già néo đứt dây", "Già đòn non nhẽ". "Già" còn chỉ cấp độ nhiều như "Đoán già, đoán non"… "Truyện Kiều" có câu cực hay: "Nói điều ràng buộc là tay cũng già".

Ảnh minh hoạ: Internet
Trong tiếng Việt không có từ "núi già", chỉ có "núi non", thế nhưng một khi chúng ta nói "trăng non" thì lại có trăng già:
"Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?"
Truyện Kiều cũng có câu: "Trăng già độc địa làm sao/ Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên" là cũng hiểu theo nghĩa trên? Nhầm chết. Nhầm đứt đuôi con nòng nọc. Trăng già ở đây là chỉ tích "Nguyệt hạ lão nhân" - đại khái có ông già ngồi dưới trăng, xem sách hôn thư là sổ những người phải lấy nhau, trong túi đựng chỉ đỏ dùng buộc chân vợ chồng họ. Do đó, nhằm nói chuyện này, người ta dùng từ "xích thằng" (dây đỏ): "Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao"; hoặc: "Dù khi lá thắm chỉ hồng"; hoặc "Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong". Tơ duyên là sợi tơ màu hồng. Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh cho biết: "Về sau người ta cho rằng mặt trăng quyết định duyên số của trai gái lấy nhau, thêm từ "già" có ý trách móc".
Với từ già trong câu "Già kén kẹn hom" vẫn khiến nhiều người bí rị nếu muốn hiểu rõ ngọn ngành của nó, chỉ hiểu loáng thoáng rằng, ý muốn nói "kén chọn" là chọn cho lắm vào, rồi cũng đến lúc thành "lính phòng không", nói toẹt ra là "ế"!
Có thể giải thích tóm tắt "kén", "hom" liên quan đến nghề trồng dâu nuôi tằm, từ đó, người ta liên tưởng qua chuyện tình duyên. Có lẽ rắc rối nhất vẫn là "kẹn", ta nghĩ đến sự tương ứng trong các từ kẹn/nghẹn; kẹt/nghẹt… để có thể hiểu "kẹn" chỉ sự vướng víu, rối rắm, sát, không róc, không xoay xở được. Mà diễn ra ở đâu? Ở "hom" tức là "Cái thanh đặt ngang trên né để tằm làm kén" - theo Đại từ điển tiếng Việt (1999).
Sở dĩ từ thành ngữ trên được liên tưởng qua chuyện tình duyên cũng không gì lạ. Bởi "kén" còn liên quan đến sự lựa, chọn: "Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống".
