Phần đông người dân TP.HCM hiện nay đã biết nhiều nơi có trồng cây giá tỵ (tức gỗ teak, còn gọi là gỗ tếch, gỗ báng súng, gỗ sồi Ấn Độ) trên đường phố.
Xem chuyên đề Chữ và nghĩa TẠI ĐÂY
Phương ngữ Nam bộ (NXB Hội Nhà văn, 2005) của Bùi Thanh Kiên giải thích về cây giá tỵ: "Tên khoa học tectora grandis, họ ngũ trảo verbennaceae. Cây to, cành non vuông có lông vàng. Lá to, dài đến 40cm, phiến xoan hình bầu dục, mặt trên màu lục, mặt dưới có lông hình sao vàng nhạt. Chùm tụ tán to cao, đứng thẳng, phần ở ngọn nhánh có nhiều hoa trắng. Quả nhân cứng, tròn và dày lông. Cây trồng nhiều ở Sài Gòn, Định Quán. Gỗ mịn nhưng bền quý, dùng để đóng tàu".
Thử đố khó một câu: "Loại cây này du nhập vào Nam bộ tự thuở nào?".
Nghe câu đố ấy, chắc chắn nhiều người sẽ cầu cứu đến "ông" Google. Tôi cũng thế, nhưng rồi cuối cùng "bó tay toàn tập". May quá, mày mò tìm lại tờ báo "Thông loại khóa trình" số 3 (6/1888) do nhà văn hóa Trương Vĩnh Ký chủ biên, mới biết tường tận. Đọc sách biết cái hay, lý thú, ích kỷ gì mà không ghi chép lại cho nhiều người cùng biết? Thì đây:

Cây giá tỵ. Ảnh: Internet
"Chính tên cây thường hay kêu dầu xiêm là cây giá tỵ (le teck siamois). Cây nó dẻo, lại mịn thịt cũng có vân, xuống nước nổi là đà. Nó ở khô, ở ướt cũng bền. Bấy giờ, Tây cũng dụng mà đóng tàu. Nó được cái hay là nó không nhớt, lại đinh đóng vô thịt nó thì không hay bị sét. Đinh mà sét thì sau nó rã sét thì nó lỏng nó sút ra; mà đóng vô giá tỵ thì không hề sét, nên người ta dụng nhứt trong việc đóng tàu là vậy. An Nam biết nó mà đặt tên cho nó là giá tỵ là từ đời Gia Long, Minh Mạng về sau.
Làm thứ cây này thì phải có ý mới được: Dạo rừng coi lựa rồi thì phải lấy rìu mà rong da gốc nó một vòng, rồi để đó cho nó héo, nó chết, nó khô lần, qua năm sau hãy đốn, hãy hạ nó xuống thì nó không có xé, có nứt hai đầu ra. Bằng đốn tươi nó đi thì làm sao nó cũng xé, cũng tách đầu nó ra chẳng khỏi đâu".
Dù câu văn hơi lủng củng, nhưng đọc lại khác nào được nghe người xưa kể chuyện cổ tích.
***
Dám đồ rằng, chuối sứ là do quan ta đời Nguyễn đi sứ Thái Lan đem về mà có giống này. Không những thế, còn có vịt xiêm, mãng cầu xiêm, dừa xiêm…
Cũng theo Trương Vĩnh Ký, ở miền Nam có loại ghe "tam bản" là do nói trại từ "sam" thành "tam": "Sam bản là loại như ván thông, dùng mà đóng xuồng nhỏ nhỏ". Do không hiểu như vậy, nên khi định nghĩa về ghe tam bản trong từ điển vẫn là: "Loại ghe lớn hơn xuồng, đóng bằng ba tấm ván".
Cái sự đọc trại này dẫn đến khác nghĩa. Ta có thể kể đến cầu Dần Xây tại TP.HCM, nhiều người cho rằng do cái cầu này xây dần dần trong thời gian quá lâu, nên mới "chết tên" như thế. Thật ra không phải. Nếu viết đúng chính tả phải là giằng xay, "Đại Nam quấc âm tự vị" (1895) giải thích đây là "Cây cối xay, trái nó giống cái thớt cối xay, bông lá dùng làm thuốc ho gió, sắc với đường phèn".
Về ghe tam bản thì ghe còn có nghĩa là nhiều. "Bài ca chúc Tết thanh niên" của Phan Bội Châu có câu: "Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn/ Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan/ Dây thành bại quyết ghe phen liên hiệp lại/ Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi/ Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần".
