Việc Quốc hội hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia không chỉ là một thao tác sắp xếp nguồn lực. Nhìn ở chiều sâu, Nghị quyết số 46/2026/QH16 mở ra cơ hội tổ chức lại tư duy phát triển: văn hóa, giáo dục, sức khỏe, sinh kế và môi trường sống gặp nhau ở một chủ thể, một không gian và một đích đến - con người có cuộc sống ngày càng đầy đủ, lành mạnh, có bản sắc và hạnh phúc.
Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Có 477 trong tổng số 478 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, bằng 95,4% tổng số đại biểu Quốc hội. Đằng sau tỷ lệ đồng thuận rất cao ấy là một quyết định chính sách có quy mô đặc biệt: hợp nhất bốn chương trình đã được Quốc hội phê duyệt về phát triển văn hóa; hiện đại hóa giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.
Từ hợp nhất nguồn lực đến tích hợp phát triển
Nếu chỉ nhìn từ góc độ hành chính, chúng ta có thể xem đây là cách giảm đầu mối, bớt thủ tục và hạn chế sự phân tán nguồn lực. Nhưng ý nghĩa lớn hơn nằm ở việc nhận diện lại bản chất của phát triển.

Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN
Một đứa trẻ ở miền núi không thể phát triển toàn diện nếu chỉ có trường học mà thiếu dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, môi trường văn hóa và cơ hội tiếp cận nghệ thuật. Một làng quê chưa thể gọi là đáng sống nếu đường sá khang trang nhưng ký ức cộng đồng phai nhạt, không gian sinh hoạt chung vắng người, thanh niên rời quê vì không có sinh kế. Một gia đình có thể thoát nghèo về thu nhập nhưng vẫn dễ tái nghèo nếu thiếu tri thức, sức khỏe, kỹ năng và năng lực thích ứng. Bốn chương trình, xét đến cùng, đều đi tới cùng một con người và diễn ra trong cùng một cộng đồng.
Chính vì thế, tinh thần quan trọng nhất của Nghị quyết 46 không phải là phép cộng cơ học. Đó phải là sự tích hợp phát triển. Hợp nhất là đưa các cấu phần vào một khuôn khổ chung; tích hợp là làm cho các cấu phần tương tác, bổ trợ và tạo ra giá trị lớn hơn tổng số của từng phần. Một công trình văn hóa ở nông thôn, nếu được thiết kế đúng, đồng thời có thể là thư viện cộng đồng, địa điểm giáo dục di sản, không gian luyện tập thể thao, sân khấu của nghệ nhân, nơi cung cấp kỹ năng số và điểm kết nối du lịch. Khi đó, một đồng vốn không chỉ hoàn thành một hạng mục, mà phục vụ nhiều mục tiêu và tạo ra một hệ sinh thái sống.
Nghị quyết đã thể hiện khá rõ tư duy ấy trong mục tiêu chung. Với nông thôn, chương trình hướng tới không chỉ "hiện đại, giàu đẹp" mà còn "bản sắc, bền vững"; với văn hóa, mục tiêu là hoàn thiện nhân cách, chuẩn mực đạo đức, bản lĩnh và hệ giá trị; với giáo dục, đó là mở rộng cơ hội học tập, bảo đảm công bằng và quyền học tập suốt đời; với y tế, đó là chăm sóc từ sớm, từ xa, ngay tại cơ sở, nâng cao cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần. Những mục tiêu này kết nối với nhau bằng khái niệm chất lượng sống, chứ không đứng thành bốn cột riêng biệt.
Điều này càng có ý nghĩa khi đặt cạnh Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết 80 xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững. Đây không chỉ là sự nâng tầm vị trí của văn hóa trong diễn ngôn chính sách. Nó đòi hỏi văn hóa phải hiện diện trong toàn bộ quá trình lựa chọn mục tiêu, phân bổ nguồn lực, tổ chức không gian sống và đánh giá chất lượng phát triển. Nghị quyết 46 có thể trở thành một kiến trúc đầu tư quan trọng để tư duy ấy đi từ chủ trương vào đời sống.

Du khách và nhân dân cùng nhảy sạp trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9/2026 tại Bảo tàng Đắk Lắk. Ảnh: Hoài Thu - TTXVN
Trong phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 79 và Nghị quyết 80 ngày 25/2/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: nếu kinh tế quyết định năng lực đi nhanh thì "văn hóa quyết định khả năng đi xa"; nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất thì văn hóa tạo ra bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh tinh thần. Cách đặt vấn đề này gợi mở một tiêu chuẩn rất quan trọng: tăng trưởng chỉ thật sự có ý nghĩa khi được dẫn dắt bởi giá trị, chuyển hóa thành tiến bộ con người và làm bền vững cộng đồng.
Quy mô nguồn lực của chương trình mới cho thấy cả cơ hội lẫn trách nhiệm ấy. Giai đoạn 2026 - 2030, tổng nguồn lực là 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên; ngân sách địa phương dự kiến 395.392 tỷ đồng; tín dụng chính sách 23.000 tỷ đồng; nguồn đối ứng của các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng 20.429 tỷ đồng; nguồn huy động hợp pháp khác 24.737 tỷ đồng. Đây không chỉ là một con số lớn. Đây là lời cam kết rằng các vấn đề xã hội căn cốt phải được giải quyết đồng bộ, có trọng tâm và tạo được thay đổi có thể cảm nhận.
Đặt con người vào trung tâm của mọi thước đo
Điều cần nhấn mạnh là văn hóa trong chương trình không chỉ nằm ở một hợp phần mang tên văn hóa. Nó có mặt trong yêu cầu xây dựng nông thôn "bản sắc"; trong việc giữ gìn văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; trong giáo dục con người; trong chăm sóc sức khỏe tinh thần; trong nhu cầu tập luyện và giải trí; trong phát triển du lịch, sản phẩm OCOP và kinh tế nông thôn. Nếu chỉ khoanh văn hóa vào phần kinh phí do ngành văn hóa quản lý, chúng ta sẽ bỏ lỡ chính tinh thần tích hợp của Nghị quyết.
Từ góc nhìn ấy, một xã xây dựng kế hoạch không nên bắt đầu bằng câu hỏi "được phân bao nhiêu vốn cho từng ngành", mà bằng câu hỏi "cộng đồng đang thiếu điều gì để sống tốt hơn". Nếu trẻ em thiếu không gian vui chơi, người cao tuổi thiếu nơi vận động, nghệ nhân thiếu người kế nghiệp và phụ nữ thiếu sinh kế, một thiết chế đa chức năng có thể giải quyết đồng thời nhiều nhu cầu. Nếu làng có nghề truyền thống, hỗ trợ không thể chỉ là tu bổ nơi thờ tổ nghề; cần đi cùng giáo dục nghề cho thanh niên, cải tiến thiết kế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, kể chuyện điểm đến và liên kết doanh nghiệp du lịch.

Nhân dân và du khách thích thú trải nghiệm nét đẹp trong sinh hoạt truyền thống của đồng bào Mông ở bản Tìa Ló. Ảnh: Trung Kiên - TTXVN
Ví dụ từ các làng nghề Thanh Hóa cho thấy tiềm năng của cách tiếp cận này. Hệ thống làng nghề của tỉnh có 77 doanh nghiệp, 56 hợp tác xã, một tổ hợp tác và hơn 12.700 hộ sản xuất, kinh doanh; tổng doanh thu hơn 2.217 tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làm cho trên 26.500 lao động với thu nhập bình quân 5-12 triệu đồng/người/tháng. Đằng sau những con số kinh tế là tri thức nghề, ký ức làng, vai trò nghệ nhân và sự gắn kết cộng đồng. Khi bảo tồn được nối với thiết kế, thị trường, du lịch và chuyển đổi số, di sản không đứng bên ngoài phát triển mà trở thành một phần của năng lực phát triển.
Tuy nhiên, tích hợp không có nghĩa là đồng nhất. Con người là điểm hội tụ, nhưng mỗi lĩnh vực vẫn có quy luật chuyên môn riêng. Xây một cây cầu có thể nghiệm thu bằng tải trọng và tuổi thọ; xây một môi trường văn hóa cần thời gian để hình thành thói quen, niềm tin và chuẩn mực. Một lớp học, một trạm y tế, một không gian văn hóa đều có thể đếm được; nhưng chất lượng giáo dục, sự an tâm khi được chăm sóc và mức độ gắn bó cộng đồng đòi hỏi những chỉ số sâu hơn. Chương trình chung vì vậy càng cần năng lực phối hợp liên ngành, chứ không phải xóa nhòa trách nhiệm ngành.
Ở tầm quốc gia, Nghị quyết 46 cũng tạo cơ hội khắc phục tư duy xem chính sách xã hội chủ yếu là khoản chi bảo đảm. Đầu tư cho sức khỏe làm tăng chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục mở rộng năng lực sáng tạo; văn hóa tạo niềm tin, bản lĩnh và sức hấp dẫn; nông thôn có bản sắc tạo ra sản phẩm khác biệt và thị trường du lịch. Nguồn lực dành cho con người không chỉ xử lý hậu quả của phát triển, mà trực tiếp tạo ra động lực phát triển mới.
Một chương trình có quy mô hơn 808 nghìn tỷ đồng sẽ được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu. Nhưng thước đo cuối cùng không nên là bao nhiêu tiền đã được phân bổ, bao nhiêu hạng mục đã hoàn thành hoặc bao nhiêu báo cáo đã nộp đúng hạn. Thước đo cần trở về với câu hỏi giản dị: người dân có khỏe hơn, học tốt hơn, sáng tạo hơn, có việc làm bền vững hơn, được hưởng thụ văn hóa công bằng hơn và cảm thấy gắn bó hơn với cộng đồng của mình hay không.
Nghị quyết 46 mở ra cơ hội để chúng ta chuyển từ tư duy quản lý những "lĩnh vực" sang kiến tạo chất lượng sống. Cơ hội ấy chỉ thành hiện thực nếu mọi cấp thực thi đều hiểu rằng đích đến không phải một siêu chương trình, mà là một con người toàn diện; không phải bốn dòng ngân sách đặt cạnh nhau, mà là các nguồn lực cùng chảy về những nhu cầu căn cốt của Nhân dân. Khi con người thật sự đứng ở trung tâm, văn hóa sẽ không còn là phần trang trí sau cùng của phát triển. Văn hóa trở thành mạch nguồn định hình hướng đi, tạo sức bền và làm nên ý nghĩa của phát triển.
"Một chương trình có quy mô hơn 808 nghìn tỷ đồng sẽ được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu. Nhưng thước đo cuối cùng không nên là bao nhiêu tiền đã được phân bổ, bao nhiêu hạng mục đã hoàn thành hoặc bao nhiêu báo cáo đã nộp đúng hạn. Thước đo cần trở về với câu hỏi giản dị: người dân có khỏe hơn, học tốt hơn, sáng tạo hơn, có việc làm bền vững hơn, được hưởng thụ văn hóa công bằng hơn và cảm thấy gắn bó hơn với cộng đồng của mình hay không" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.
(Còn tiếp)