Việc triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục đi sâu vào những vấn đề cốt lõi của giáo dục phổ thông.
Trong đó, yêu cầu đổi mới không chỉ được đo bằng số nhiệm vụ hoàn thành, số đầu mối trường học được cắt giảm hay nền tảng số được xây dựng, mà bằng chất lượng vận hành của nhà trường và những thay đổi để giáo viên, học sinh thực sự được thụ hưởng.
Giám sát để nhận diện những vấn đề cần sửa ngay
Tại Hội nghị công bố Quyết định và Kế hoạch giám sát việc triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW, chuyên đề về công tác giáo dục phổ thông, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết, Trưởng đoàn giám sát cho biết, giám sát không nhằm tìm kiếm vi phạm hay xem xét ai có khuyết điểm mà phải đánh giá thấu đáo, khách quan "việc gì đã làm được, việc gì chưa làm được, việc gì phải sửa ngay, việc gì cần phải có cơ chế, chính sách để vận hành một cách hiệu quả hơn". Kết quả giám sát phải trở thành cơ sở để Bộ Chính trị, Ban Bí thư xác định các chủ trương, quyết sách đối với giáo dục phổ thông trong giai đoạn mới. Quá trình này phải dựa trên số liệu, minh chứng cụ thể, tránh đánh giá chung chung.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Ảnh: Phương Hoa - TTXVN
Cuộc giám sát tập trung làm rõ bốn nhóm vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục phổ thông.
Thứ nhất là Chương trình giáo dục phổ thông, trong đó đánh giá tính khoa học, tính kế thừa, liên thông giữa các cấp học; mức độ phù hợp với tâm sinh lý học sinh và điều kiện thực tế của các vùng, miền; tải trọng chương trình, tổ chức dạy học tích hợp và lựa chọn môn học.
Thứ hai là sách giáo khoa, với yêu cầu đánh giá chất lượng nội dung, việc lựa chọn, chi phí; xem xét những nội dung cần tiếp tục, lược bỏ, thay thế và những giá trị cần kế thừa.
Thứ ba là cơ sở vật chất, trường lớp, tập trung xác định chính xác tình trạng thiếu trường, lớp, phòng học, thiết bị dạy học và hiệu quả đầu tư, đặc biệt đối với các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới.
Thứ tư là tổ chức bộ máy và đội ngũ, trong đó phải xác định cụ thể tình trạng thừa, thiếu giáo viên, nhất là ở vùng khó khăn, cùng những vấn đề về chế độ, chính sách đối với nhà giáo sau quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức.
Yêu cầu đánh giá bằng hiệu quả thực tế cũng được đặt ra đối với quá trình sắp xếp mạng lưới trường học.
Theo Thông báo số 523/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu, 34/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành phương án sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giảm 18.975 đầu mối cơ sở giáo dục công lập, tương đương 50,6%, vượt mục tiêu tối thiểu 30%. Cùng với đó, 28.217 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục được chuyển sang công tác giảng dạy; hoạt động giáo dục tại các cơ sở sau sắp xếp cơ bản được duy trì ổn định, bảo đảm quyền học tập của học sinh.

Cô trò Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh miệt mài học tập. Ảnh: Hoàng Ngà - TTXVN
Tuy nhiên, sau sắp xếp, một số cơ sở giáo dục có quy mô rất lớn, nhiều phân hiệu, điểm trường, gây khó khăn cho quản trị. Một số cán bộ quản lý, nhân viên chưa có phương án bố trí công việc; việc bàn giao tài chính, tài sản, dữ liệu và hoàn tất thủ tục pháp nhân mới ở một số nơi còn chậm.
Đối với các trường phổ thông nội trú liên cấp tại xã biên giới, nhiều trường giai đoạn 1 chưa hoàn thành toàn bộ hạng mục, phải vừa dạy học vừa thi công. Quá trình vận hành trường mới cũng phát sinh khó khăn do thiếu nhân lực quản sinh, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng và giáo vụ.
Từ thực tế trên, Phó Thủ tướng yêu cầu việc sắp xếp cơ sở giáo dục phải gắn với nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường và chất lượng giáo dục; tuyệt đối tránh bệnh thành tích, sắp xếp cơ học, cào bằng.
Chất lượng giáo dục, an toàn và quyền lợi của học sinh được xác định là thước đo cuối cùng và quan trọng nhất; việc sắp xếp chỉ được coi là hoàn thành khi bộ máy mới vận hành ổn định, hiệu quả, có đầy đủ đội ngũ, nguồn lực và điều kiện dạy học tốt hơn.
Các địa phương được yêu cầu rà soát toàn bộ những cơ sở có quy mô lớn, nhiều cấp học, nhiều phân hiệu, điểm trường và địa bàn rộng, nhất là 114 cơ sở có trên 100 lớp; kịp thời điều chỉnh đối với những trường vượt khả năng quản trị, ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn hoặc quyền học tập của học sinh, hoàn thành trong tháng 10/2026.

Học sinh tập trung học tập. Ảnh: Hoàng Ngà - TTXVN
Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn địa phương
Tại Gia Lai, ngày 15/10, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai cho biết đã báo cáo UBND tỉnh kết quả kiểm tra, xác minh các phản ánh, kiến nghị liên quan đến công tác sắp xếp, bố trí nhân sự tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn phường. Sau sắp xếp, số trường tại Quy Nhơn Nam giảm từ 13 xuống còn 6 trường.
Qua đối chiếu hồ sơ, Sở Giáo dục và Đào tạo xác định một số nội dung chưa có đủ tài liệu chứng minh về căn cứ lựa chọn, điều kiện, tiêu chuẩn, thứ tự ưu tiên và quá trình công khai phương án nhân sự.
Trong đó, phường Quy Nhơn Nam bố trí 3 hiệu trưởng xuống làm giáo viên. Tại một số trường hợp, hồ sơ chưa thể hiện đầy đủ căn cứ lựa chọn nhân sự cũng như kết quả đối chiếu điều kiện, tiêu chuẩn, thứ tự ưu tiên giữa các cán bộ quản lý trước sắp xếp.
Một vấn đề khác được yêu cầu làm rõ là việc bố trí 2 viên chức kế toán tại Trường Tiểu học Kim Đồng. Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị địa phương cung cấp căn cứ pháp lý, điều kiện áp dụng; đồng thời rà soát từng quyết định bố trí, bổ nhiệm và kịp thời điều chỉnh, khắc phục nếu xác định có sai sót, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của viên chức. Đến thời điểm báo cáo, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai xác định các nội dung phản ánh có căn cứ để tiếp tục kiểm tra, làm rõ.
Trong khi đó, tại Đồng Tháp, Hội nghị sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW cho thấy cả kết quả và những vấn đề tiếp tục phải giải quyết sau quá trình sắp xếp quy mô lớn.

Học sinh tham gia thi vẽ tranh “Miền Trái ngọt - Màu quê hương” tại Đồng Tháp. Ảnh: Hồng Nhung - TTXVN
Sau sắp xếp, số đầu mối trường học của tỉnh giảm từ 1.075 xuống còn 375, tương ứng khoảng 65,1%. Tỉnh đồng thời chỉ đạo duy trì các điểm trường, phân hiệu phù hợp với điều kiện địa bàn, bảo đảm tính liên tục của hoạt động dạy học và khả năng tiếp cận giáo dục. Năm học 2026-2027, tổng số người học ở các cấp học và giáo dục thường xuyên của tỉnh là 658.680 người.
Tuy nhiên, qua rà soát đội ngũ, các cơ sở giáo dục còn thiếu 2.006 giáo viên theo định mức, đồng thời thừa cục bộ 62 giáo viên và 1 nhân viên kế toán. Một số cơ sở còn thiếu phòng học bộ môn, thiết bị tối thiểu, sân bãi và điều kiện bán trú; chuyển đổi số, quản trị dữ liệu, hạ tầng và kỹ năng số chưa đồng đều.
Lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Nội vụ và UBND các xã, phường rà soát nhu cầu nhà giáo theo cấp học, môn học và địa bàn để điều tiết đội ngũ, khắc phục tình trạng mất cân đối; đồng thời hoàn thành bản đồ giáo dục số và đánh giá hoạt động của các cơ sở giáo dục sau sắp xếp.
Như vậy, những vấn đề phát sinh sau sắp xếp ở mỗi địa phương không giống nhau. Có nơi cần tiếp tục làm rõ quy trình, căn cứ bố trí cán bộ, viên chức; có nơi phải giải quyết tình trạng thiếu, thừa cục bộ giáo viên và điều kiện cơ sở vật chất. Đây cũng là những vấn đề cần tiếp tục được theo dõi trong quá trình vận hành mạng lưới trường học sau sắp xếp.
Học liệu số phải tạo ra thay đổi trong dạy và học
Cùng với nâng cao hiệu quả quản trị trường học, một vấn đề quan trọng là hình thành hạ tầng học liệu số dùng chung cho giáo dục phổ thông. Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 1965/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông".
Hệ thống được thiết kế theo hướng mở, liên thông, lấy dữ liệu làm trung tâm, ưu tiên kế thừa và kết nối các hạ tầng, nền tảng dùng chung. Một nguyên tắc quan trọng là bảo đảm học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được tiếp cận nguồn học liệu số chất lượng cao, chuẩn hóa và miễn phí; trong đó ưu tiên học sinh, giáo viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và học sinh khuyết tật.
Theo Đề án, Cổng học liệu số quốc gia phải đáp ứng yêu cầu khai thác tại 100% cơ sở giáo dục phổ thông; xây dựng bộ học liệu lõi quốc gia cho các môn học, cấp học theo Chương trình giáo dục phổ thông, ưu tiên học liệu tương tác đa phương tiện, mô phỏng thực tế và thí nghiệm ảo. Giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh đồng thời được bồi dưỡng năng lực số để khai thác, sử dụng và đóng góp học liệu.
Giai đoạn 2026-2027 tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng phiên bản đầu tiên của hệ thống, hình thành học liệu lõi và tổ chức thí điểm. Giai đoạn 2028-2030 sẽ mở rộng trên phạm vi toàn quốc, hướng tới 100% cơ sở giáo dục phổ thông kết nối và sử dụng hệ thống trước năm 2030.