Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số đang mở rộng những cơ hội nghề nghiệp mới, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng sáng tạo, tổ chức nguồn lực và hiện thực hóa ý tưởng của người làm văn hóa. Trong đó, khởi nghiệp cần được nhìn nhận như một năng lực gắn với quá trình phát triển nghề nghiệp, thay vì chỉ giới hạn ở việc thành lập doanh nghiệp.
Phát triển năng lực khởi nghiệp văn hóa vì vậy đòi hỏi kết hợp tri thức chuyên môn với tư duy đổi mới sáng tạo, khả năng tiếp cận thị trường và trách nhiệm đối với các giá trị văn hóa. Đây là cơ sở để hình thành những sản phẩm, dịch vụ và mô hình hoạt động mới, góp phần chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Khởi nghiệp như một năng lực kiến tạo giá trị
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh yêu cầu khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, có cách tiếp cận mở, cho phép thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra.
Những định hướng này có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực, gợi mở yêu cầu nâng cao năng lực sáng tạo, khả năng nhận diện cơ hội và hiện thực hóa ý tưởng thành những sản phẩm, dịch vụ có giá trị.

Chương trình nghệ thuật và thực hành hát Dân ca Ví, Giặm “Mạch Lam Giang 2026” do nhóm sinh viên ngành Báo chí, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội tổ chức. Ảnh: Khánh Hòa
Đối với lĩnh vực văn hóa, nguồn lực khởi nghiệp có thể bắt nguồn từ tri thức, tài năng nghệ thuật, di sản, bản sắc và những thực hành sáng tạo. Tuy nhiên, việc chuyển hóa những nguồn lực ấy thành sản phẩm có giá trị còn đòi hỏi năng lực tổ chức, huy động nguồn lực, xác định nhu cầu công chúng và lựa chọn phương thức hoạt động phù hợp.
Theo TS Trần Quốc Bình (Trường Đại học Mở Hà Nội), cần phân biệt việc thành lập doanh nghiệp với năng lực khởi nghiệp.
Theo đó, khởi nghiệp theo nghĩa thành lập và vận hành doanh nghiệp là một lựa chọn nghề nghiệp, không phải yêu cầu bắt buộc đối với tất cả người học. Trong khi đó, khả năng nhận diện cơ hội, đề xuất sáng kiến, huy động nguồn lực và chuyển ý tưởng thành hành động có thể phát huy tác dụng trong nhiều con đường nghề nghiệp khác nhau.
Cách tiếp cận này mở rộng ý nghĩa của năng lực khởi nghiệp đối với đội ngũ làm văn hóa. Người hoạt động trong thiết chế công lập có thể phát triển sáng kiến phục vụ công chúng; nghệ sĩ, người làm nghề độc lập hoặc các nhóm sáng tạo có thể tổ chức dự án, phát triển sản phẩm trên cơ sở khai thác những nguồn lực văn hóa. Khả năng khởi nghiệp vì vậy thể hiện ở tính chủ động phát hiện vấn đề, xây dựng giải pháp và tổ chức thực hiện, không nhất thiết dẫn tới việc thành lập doanh nghiệp.
Từ nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp, TS Trần Quốc Bình đề xuất 6 nhóm năng lực gồm: Chuyên môn; sáng tạo và giải quyết vấn đề; công nghệ số và trí tuệ nhân tạo; truyền thông và công chúng; quản trị dự án và nguồn lực; thích ứng và khởi nghiệp. Các nhóm năng lực có quan hệ bổ trợ, trong đó chuyên môn tạo nền tảng để phát triển ý tưởng, còn những năng lực khác hỗ trợ quá trình hiện thực hóa ý tưởng thành sản phẩm, dịch vụ hoặc dự án có giá trị.
Theo chuyên gia, khởi nghiệp văn hóa được hiểu rộng hơn việc đưa một sản phẩm có yếu tố văn hóa ra thị trường, mà còn là quá trình phát hiện cơ hội, kiến tạo ý nghĩa, tổ chức nguồn lực và tạo lập giá trị trong một bối cảnh văn hóa cụ thể. Vì vậy, hiệu quả khởi nghiệp không chỉ gắn với tính khả thi của sáng kiến mà còn phải được xem xét trong mối quan hệ với những giá trị văn hóa, xã hội mà sản phẩm mang lại.
Nuôi dưỡng sáng kiến qua môi trường "vườn ươm"
Khả năng sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp cần được hỗ trợ bằng những điều kiện phù hợp để ý tưởng có thể phát triển, thử nghiệm và tiếp cận thực tiễn. Trong lĩnh vực văn hóa, quá trình này thường đòi hỏi sự kết hợp giữa chuyên môn, công nghệ, nguồn lực tài chính, quản trị tài sản trí tuệ và khả năng tiếp cận công chúng, nhất là đối với những người mới bắt đầu hoạt động nghề nghiệp.

Chương trình văn hóa - nghệ thuật “Xiếc Họa Đông Hồ” là hoạt động thuộc dự án sáng tạo nghệ thuật “Thức cùng di sản” do nhóm sinh viên Khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại, Học viện Ngoại giao thực hiện. Ảnh: Khánh Hòa
Từ yêu cầu đó, ThS Luyện Thị Thùy Nhung (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) đề xuất mô hình vườn ươm khởi nghiệp văn hóa nhằm hỗ trợ sinh viên, nhóm sinh viên và các dự án sáng tạo trong môi trường giáo dục đại học. Theo nghiên cứu, mô hình kết hợp không gian ươm tạo, tri thức chuyên môn, hoạt động cố vấn, mạng lưới kết nối, tiếp cận thị trường và hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ, qua đó tạo điều kiện chuyển hóa ý tưởng thành sản phẩm, dịch vụ văn hóa và cơ hội nghề nghiệp.
Đáng chú ý, theo chuyên gia, không nhất thiết tạo một thiết chế hoàn toàn mới. Hoạt động ươm tạo có thể được tổ chức như một chương trình hoặc cấu phần chức năng của Trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa tại cơ sở giáo dục đại học. Mô hình thí điểm cần xác định rõ đối tượng, tiêu chí lựa chọn dự án, thời gian ươm tạo, nguồn lực, trách nhiệm tài chính và cơ chế đánh giá, trên cơ sở tổ chức và kết nối hiệu quả những nguồn lực hiện có.
Giá trị của mô hình ươm tạo nằm ở khả năng hỗ trợ ý tưởng sáng tạo vượt qua những khó khăn trong quá trình hiện thực hóa. Một dự án có thể có nội dung chuyên môn tốt nhưng chưa xác định rõ công chúng, phương thức vận hành hoặc điều kiện khai thác thương mại. Sự tham gia của chuyên gia, đơn vị sử dụng sản phẩm và đối tác thị trường giúp người thực hiện nhận diện những vấn đề cần điều chỉnh, đồng thời phát triển năng lực giải quyết vấn đề, quản trị dự án và thích ứng nghề nghiệp.
Nghiên cứu của ThS Luyện Thị Thùy Nhung đề xuất cơ chế vận hành theo chu trình tiếp nhận, lựa chọn ý tưởng; tổ chức ươm tạo và thử nghiệm; đánh giá mức độ sẵn sàng; kết nối nguồn vốn, doanh nghiệp và thị trường; sau đó thương mại hóa hoặc chuyển tiếp sang cơ hội việc làm. Trong đó, doanh nghiệp tham gia xác định vấn đề, cố vấn và phản hồi sản phẩm; cơ sở đào tạo giữ vai trò tổ chức, điều phối và cung cấp nền tảng tri thức chuyên môn.
Từ cách tiếp cận này, vườn ươm khởi nghiệp văn hóa cần được nhìn nhận như một phương thức hỗ trợ phát triển năng lực và kết nối nghề nghiệp, thay vì chỉ hướng tới mục tiêu thương mại hóa. Quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện ý tưởng và tiếp nhận phản hồi cũng tạo điều kiện để người học tích lũy những kinh nghiệm, năng lực cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp lâu dài.
Hài hòa giá trị văn hóa và hiệu quả kinh tế
Khởi nghiệp văn hóa góp phần hình thành những sản phẩm, dịch vụ và mô hình hoạt động mới, nhưng sản phẩm văn hóa không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn gắn với những giá trị thẩm mỹ, lịch sử, biểu tượng, bản sắc và đời sống tinh thần. Đây là đặc thù cần được nhận diện khi phát triển năng lực khởi nghiệp và đánh giá hiệu quả các dự án sáng tạo.
Nghiên cứu về mô hình đại học khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, TS Nguyễn Việt Phương (Học viện Chính trị khu vực I) nhấn mạnh: "Giá trị của sản phẩm văn hóa không thể được đo đầy đủ bằng doanh thu hoặc mức sẵn sàng chi trả như nhiều sản phẩm thông thường".

Người dùng trải nghiệm ứng dụng ReHistoria - dự án trải nghiệm di sản bằng công nghệ AR do sinh viên Trường Đại học FPT thực hiện. Ảnh: NVCC
Theo đó, quá trình lựa chọn và thẩm định dự án văn hóa không thể chỉ dựa trên khả năng thương mại hóa, mà còn cần xem xét tính xác thực, giá trị lịch sử, bản sắc, quyền của chủ thể văn hóa, khả năng tiếp cận của công chúng và tác động giáo dục. Những yêu cầu này xuất phát từ đặc thù của sản phẩm văn hóa, nơi giá trị kinh tế và giá trị văn hóa có quan hệ với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Từ góc độ phát triển nguồn nhân lực, người sáng tạo cần có khả năng tổ chức sản xuất, quản trị nguồn lực và tiếp cận thị trường để duy trì hoạt động, đồng thời phải nhận diện, bảo vệ những giá trị cấu thành bản sắc của sản phẩm. Đối với các dự án khai thác chất liệu di sản, hiệu quả không chỉ được xem xét qua sức hấp dẫn thương mại mà còn phải gắn với tính chính xác của nội dung, phương thức sử dụng tư liệu và tác động đối với cộng đồng liên quan.
TS Nguyễn Việt Phương cũng đề cập yêu cầu mở rộng sự tham gia của các chủ thể trong quá trình phát triển dự án văn hóa. Bên cạnh cơ quan quản lý, nhà trường và doanh nghiệp, những nghệ nhân, cộng đồng thực hành, thiết chế văn hóa và người sử dụng cần được tham gia với vai trò phù hợp.
Theo chuyên gia, tri thức bản địa, ký ức cộng đồng và dữ liệu văn hóa không thể chỉ được nhìn nhận như nguồn đầu vào cho hoạt động sản xuất, mà việc sử dụng phải gắn với xác minh tư liệu, xác định quyền khai thác, sự tham gia của chủ thể văn hóa và nguyên tắc chia sẻ lợi ích.
Những vấn đề này đòi hỏi phát triển năng lực quản trị và trách nhiệm nghề nghiệp ngay từ quá trình hình thành dự án. Việc xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng và cơ chế phân chia lợi ích cần được thực hiện từ đầu, trong khi đánh giá hiệu quả phải phản ánh cả khả năng duy trì hoạt động, giá trị chuyên môn và những tác động đối với đời sống văn hóa, thay vì chỉ căn cứ vào doanh thu hay số lượng doanh nghiệp được thành lập.
Từ điểm tựa chính sách, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định mục tiêu đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo. Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển các mô hình kinh tế văn hóa mới, hình thành những không gian sáng tạo nội dung số, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp văn hóa ứng dụng công nghệ tiên tiến và có chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa.
Cùng với đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, tạo điều kiện thí điểm những vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Vận dụng các định hướng này vào lĩnh vực văn hóa, cần tạo môi trường thuận lợi để các ý tưởng sáng tạo được nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị, góp phần phát huy nguồn lực văn hóa và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa.
Phát triển năng lực khởi nghiệp văn hóa vì vậy không chỉ nhằm hình thành thêm doanh nghiệp hay mở rộng thị trường, mà quan trọng hơn là xây dựng đội ngũ có khả năng nhận diện nguồn lực, phát triển ý tưởng, tổ chức thực hiện và kiến tạo giá trị mới trên nền tảng tri thức, tài năng và bản sắc văn hóa.
Trong tiến trình chuyển đổi số, khi năng lực sáng tạo gắn với khả năng hiện thực hóa ý tưởng, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và giá trị văn hóa, nguồn nhân lực sẽ có điều kiện đóng góp chủ động hơn cho sự phát triển công nghiệp văn hóa. Đây cũng là cơ sở để phát huy tiềm năng con người, khơi thông nguồn lực sáng tạo, góp phần đưa văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Khả năng khởi nghiệp vì vậy thể hiện ở tính chủ động phát hiện vấn đề, xây dựng giải pháp và tổ chức thực hiện, không nhất thiết dẫn tới việc thành lập doanh nghiệp.