Trong một năm, có nhiều bữa cơm gia đình khiến người ta nhớ mãi, nếu vì lý do gì đó không có mặt thì lấy làm tiếc và tự nhủ năm sau mình phải có mặt. Đó còn là bữa cơm Tất niên ấm áp, đầy đủ các thành viên trong nhà.
Xem chuyên đề Chữ và nghĩa TẠI ĐÂY
Khi nói "Tất niên", bất kỳ ai cũng hiểu là "hết năm", tất nhiên ngoài nghĩa này, tất còn có nhiều nghĩa khác nữa. Thí dụ "Truyện Kiều" có câu: "Một lời gắn bó tất giao/ Mái sau dường có xôn xao tiếng người".
Tất giao là keo sơn nhằm chỉ sự gắn bó, khắng khít. Khi nhà nho Nguyễn Công Trứ viết: "Lúc hội ngộ hối tàng nơi bồng tất", ta hiểu "bồng tất" là thứ cỏ dùng để lợp nhà.
Nói về thói ăn chơi phong lưu ngày trước, ông Tú Xương miêu tả ấn tượng: "Quanh năm phong vận, áo hàng tầu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh;
Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Định bóng".

Tranh minh hoạ: Internet
"Bít tất" còn gọi là "vớ", nhưng hoàn toàn không liên quan gì với "Chết đuối vớ phải bọt", "Trai tơ vớ được nạ dòng/ Như nước mắm nhất chấm lòng lợn thiu"… Vớ trong ngữ cảnh nghĩa là níu lấy, tóm được. Với từ "tất", ngày xưa trong Nam có câu "tơ bơ tất bất" là hiểu theo nghĩa "Bổ sấp bổ ngửa, không ai nhìn biết"- theo Đại Nam quấc âm tự vị (1895). Tất cũng hiểu như ắt, hẳn, thí dụ "Có làm tất có ăn".
Với bữa cơm Tất niên cũng là lúc người ta còn nghĩ đến Tết. Hơn 500 năm trước, Từ điển Việt-Bồ-La (1651) ghi nhận: "Tết: Lễ đầu năm mới. Ăn Tết 3 ngày: Mừng 3 ngày đầu năm mới bằng tiệc tùng". Trong một năm có nhiều cái Tết nhưng tết lớn nhất vẫn Tết Nguyên đán, ta gọi "Tết cả", kể các tên gọi khác như "Tết ta". "Tết Âm lịch", "Tết cổ truyền".
Có điều thú vị trong tiếng Việt là từ "cả" và "cái" cũng na ná nghĩa, "Cái": "Chỉ một vật to lớn hơn những vật đồng loại, hoặc là cốt thiết hơn cả: Cột cái, sông cái, rễ cái. Văn liệu: "Nhỏ to chua cái chua con" (Nhị độ mai), "Thênh thênh đường cái thanh vân" (Truyện Kiều), "Vợ cái con cột" (tục ngữ) - theo Việt Nam tự điển (1931). Trong dẫn chứng này, có lẽ ta khó hiểu nghĩa với câu "Nhỏ to chua cái chua con" chăng? "Chua cái chua con" nghĩa là kể lể, thêm mắm thêm muối, có ít xít cho nhiều, điều nọ tiếng kia, nói xấu người khác.
Dù na ná nghĩa nhưng từ "cả" và "cái" không phải lúc nào cũng có thể hoán đổi, chẳng hạn, ta gọi "Tết cả", chứ không ai nói "Tết cái" - mặc dù "cái" đã dùng trong cửa cái, thúng cái, đèn cái, ngón cái… cũng hiểu là "Chỉ một vật to lớn hơn những vật đồng loại".
Cách phân biệt đâu ra đó trong cách dùng từ "cả" và "cái" đã đạt đến chuẩn mực trong lời ăn tiếng nói của mọi trường hợp. Tất nhiên, ngoài nghĩa nêu trên, cả 2 từ "cái" và "cả" còn "đèo bòng" thêm nhiều nghĩa khác nữa nhưng ta không bàn ở đây.
