Nửa đêm. Hành lang bệnh viện. Trắng toát. Giữa cái ranh giới sinh tử mỏng dính như sợi chỉ ấy, khi người ta run rẩy cầm trên tay tờ báo bệnh hay ngồi chết lặng ngoài cửa phòng cấp cứu... ngôn từ gãy vụn. Chẳng ai dở hơi mà lôi một tập thơ ra đọc để tìm kiếm sự lãng mạn.
Thế nhưng, kỳ lạ thay. Giữa cái tĩnh lặng rợn người, đặc quánh mùi tử sinh ấy... văng vẳng trong đầu tôi bỗng trồi lên một lời ru cũ rích. Tiếng "à ơi" mộc mạc thuở nảo thuở nào tự dưng lọt thỏm xuống giữa lồng ngực: "Ví dầu cầu ván đóng đinh / Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi / Khó đi mẹ dắt con đi...".
Tôi nhớ như in cái đêm thức trắng ngoài hành lang Viện K chầu chực chờ kết quả sinh thiết của người nhà. Ngồi cách tôi dăm cái ghế là một chị trạc tứ tuần, gầy rộc. Chị vừa nhận tờ giấy kết quả ác tính. Không gào khóc. Không giãy giụa. Chị ngồi thu lu, ôm mặt, bờ vai rung lên bần bật. Và trong cái không gian nặc mùi thuốc ấy, tôi nghe chị lầm rầm đọc. Không phải rên rỉ. Chị lầm rầm đọc mấy câu thơ của Lưu Quang Vũ: "Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa / Tại sao cây táo lại nở hoa / Sao rãnh nước trong veo đến thế...". Giọng chị vỡ nát, xước xát lẫn trong tiếng nấc. Nhưng lạ lùng thay, đọc xong mấy câu ấy, chị ngẩng lên, lau nước mắt, ánh nhìn bớt đi vài phần hoảng loạn.

Ảnh minh hoạ: Internet
Thơ lúc này vứt bỏ sạch trơn ba cái vỏ bọc văn chương nghệ thuật mỹ miều. Đâu cần vần luật cao siêu hay thi pháp gì ở cửa tử. Mấy chữ thơ bỗng chốc biến thành một chiếc phao cứu sinh tàng hình. Nó dội lên, bấu chặt lấy cái nhịp tim đang đập loạn xạ, đang thóp lại vì sợ hãi. Nó kéo giật ta lại, vững chãi và ấm nóng y hệt cái nắm tay thô ráp của mẹ ngày bé, giữ rịt lấy tâm trí ta để ta không bị trượt chân, rơi tõm xuống cái hố sâu đen ngòm của sự hoảng loạn tận cùng.
***
Cuối năm ngoái, tôi ngồi cà phê với Thượng úy Nguyễn Sỹ Công - một bác sĩ quân y, vừa hoàn thành nhiệm vụ từ Bệnh viện dã chiến cấp 2 ở Nam Sudan trở về. Bác sĩ Công kể, ở bên đó, có những ngày nhiệt độ lên vọt, quanh doanh trại chỉ có cát bụi đỏ au, bạo loạn rình rập. Căng thẳng vô cùng. Thế rồi, một buổi tối, giữa tiếng còi báo động vừa dứt, có người lính trẻ lôi cây đàn sứt sẹo ra, ngân nga hát một bài thơ được phổ nhạc, hay đọc cho nhau nghe vần lục bát chép tay nhét trong nắp ba lô lấm láp đất cát.
"Anh biết không, lúc nghe câu thơ lục bát vang lên giữa cái sa mạc đạn bom ấy, tự dưng bọn em thấy mùi đất ải quê nhà, thấy bình yên đến rỏ nước mắt" - bác sĩ Công nhấp ngụm cà phê và nói với tôi.
Đọc thầm một vần lục bát lên giữa xứ người, giữa ranh giới của đạn bom, ấy là lúc người lính tìm thấy hòa bình. Thơ ca lúc này lột xác. Nó chính là "lực lượng gìn giữ hòa bình" đóng quân ngay bên trong tâm hồn con người.
***
Thơ ca, ở cái ngưỡng tận cùng của nó, hệt như một tiếng chuông chánh niệm thu không. Boong... boong... Âm thanh ngân dài, miên man, rung bần bật trong cái thinh không chạng vạng. Dội thẳng vào lồng ngực. Tiếng chuông ấy đập vỡ lớp vỏ vô minh. Chữ nghĩa của thơ lúc này chẳng còn là để khoe khoang kỹ thuật. Nó dạy ta biết dừng lại. Biết dõi theo một nhịp thở vào, nhịp thở ra. Dọn dẹp lại cái mớ tâm trí ngổn ngang.
Một bài thơ hay là đọc xong, người ta thấy lòng rỗng rang, trong vắt. Thấy muốn chắp tay lại, mỉm cười tha thứ cho kẻ thù, và tha thứ cho cả những cái ngu ngốc, bầm dập, nát tươm của chính bản thân mình.
Khi những tung hô ồn ào, danh vọng lấp lánh rút đi sạch sẽ như cơn thủy triều, để lại một bãi lầy trơ trọi... con người mới thực sự đối diện với cái trống rỗng tận cùng của phận mình. Chính cái lúc ta ngồi phịch xuống ghế, vò đầu bứt tai giữa đống ngổn ngang tĩnh mịch ấy... thơ ca mới lặng lẽ kéo chiếc ghế trống, ngồi xuống đối diện.
Nó không cất tiếng an ủi ồn ào. Không giáo điều. Nó chỉ châm một chén trà đắng. Ngồi đó. Tỏa hơi nóng, sưởi ấm cái lạnh lẽo đang đóng băng nơi đáy mắt.
Giữa muôn vàn sự quay lưng, thơ là người bạn trung thành nhất, bám trụ lại ở đường biên cuối cùng.
