Sau những chuyển động tích cực của mùa lễ hội Xuân Bính Ngọ 2026, câu chuyện phát triển kinh tế di sản từ lễ hội đang được nhìn nhận trong một bối cảnh rộng hơn: làm thế nào để định vị rõ bản sắc của từng lễ hội, đồng thời đặt hoạt động khai thác trong một cấu trúc phát triển có kiểm soát và bền vững.
Những thống kê từ ngành văn hóa cho thấy Việt Nam hiện có hơn 8.000 lễ hội, một con số khá lớn, khi trung bình mỗi ngày trên cả nước có khoảng 20 lễ hội khác nhau. Và cũng không lạ khi phần lớn trong số này là các lễ hội truyền thống (được cho là vào khoảng 88%), gắn với những lớp di sản văn hóa phi vật thể lâu đời của các cộng đồng cư dân. Bởi như phân tích của giới nghiên cứu, mỗi đơn vị cấp xã hiện nay đều có vài làng, mỗi làng hầu như đều duy trì lễ hội "Xuân Thu nhị kỳ", tức một hoặc hai lần mỗi năm.
Những gợi mở đáng suy nghĩ
Tất nhiên, không phải lễ hội nào trong số này cũng có sức lan tỏa rộng - khi rất nhiều lễ hội nhỏ tồn tại chủ yếu để phục vụ đời sống tín ngưỡng của cộng đồng địa phương. Dù vậy, bên cạnh việc hỗ trợ họ bảo tồn và vận hành các lễ hội này thì đối với những lễ hội có quy mô lớn hơn, giàu chiều sâu lịch sử và có khả năng kết nối cộng đồng rộng rãi luôn cần được chú ý đầu tư và định vị lại vai trò trong giai đoạn phát triển mới.

Rước hội chùa Dâu, phường Trí Quả (tỉnh Bắc Ninh). Ảnh: TTXVN phát
Bởi ở một góc độ nhất định, với hàng trăm năm tồn tại, chính những lễ hội truyền thống sẽ là những không gian và sự kiện văn hóa có sức hút lớn với người dân. Trong khi ở hướng ngược lại, lễ hội đương đại mang màu sắc "festival", dù được tổ chức quy mô, nhưng đôi khi vẫn gặp khó khăn để có sức sống lâu dài nếu thiếu nền tảng văn hóa truyền thống.
Từ đó, việc nhận diện và lập hồ sơ để gìn giữ bản sắc riêng, đồng thời xây dựng những kế hoạch phát huy giá trị lễ hội một cách khoa học và hợp lý, đã trở thành một yêu cầu quan trọng trong phát triển "kinh tế di sản" gắn với loại hình này. Giống như nhiều năm qua các chuyên gia vẫn nhấn mạnh rằng yếu tố cốt lõi của mỗi lễ hội nằm ở chính những thành tố làm nên bản sắc: từ nghi lễ, thần tích, tục hèm, nhạc lễ cho tới cách cộng đồng tổ chức và duy trì sinh hoạt lễ hội. Vì vậy, để bảo tồn và phát huy đúng giá trị, các cơ quan chuyên môn cần sớm có những đợt khảo sát quy mô lớn, mang tính tổng thể về hệ thống lễ hội trên cả nước, qua đó xác lập rõ những giá trị cốt lõi của từng trường hợp trong bức tranh chung.
Thực tế, những năm qua, một số nhóm nghiên cứu cũng đã thực hiện các khảo sát khoa học theo hướng này với những tiêu chí khá cụ thể. Điển hình, tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, hơn 10 năm trước, nhóm chuyên gia do PGS Bùi Quang Thắng chủ trì đã tiến hành điền dã tại nhiều tỉnh, thành để đánh giá chất lượng của các lễ hội truyền thống.
Từ dữ liệu thực địa, nhóm nghiên cứu xây dựng hệ thống 10 tiêu chí nhận diện, bao gồm: có đình hoặc đền thờ, còn sắc phong, có thần phả, có rước, có tế, có nhạc bát âm, có múa hoặc hát thờ, có trò chơi dân gian, có lễ vật đặc biệt và đọc sớ bằng chữ Nho. Trên cơ sở đó, các lễ hội được phân loại thành nhiều cấp độ: lễ hội loại A gần như hội tụ đầy đủ các tiêu chí; trong khi các loại sau ở mức thấp hơn khi những tiêu chí này đã mai một dần.

Lễ hội Kinh Dương Vương, phường Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh). Ảnh: TTXVN phát
Đáng chú ý, từ cách tiếp cận coi lễ hội như những cấu trúc văn hóa gồm nhiều "thành tố" cụ thể, nhóm nghiên cứu khi đó cũng đưa ra một gợi mở đáng suy nghĩ: bên cạnh việc bảo tồn nguyên vẹn những lễ hội truyền thống tiêu biểu, việc phát triển các lễ hội còn tiềm năng cũng có thể trở thành hướng đi tích cực nếu chúng vẫn giữ được những "hạt nhân" quan trọng về nghi lễ, thần tích hay các hình thức diễn xướng dân gian.
Nói cách khác, khi những yếu tố cốt lõi ấy còn được bảo lưu, lễ hội hoàn toàn có thể được tiếp cận theo những phương thức tổ chức, quảng bá và phát huy để phù hợp với đời sống hiện đại, qua đó vừa tạo được bản sắc văn hóa cho cộng đồng, vừa mang lại những lợi ích cụ thể về kinh tế - xã hội cho địa phương.
Khi bản sắc và vị trí của mỗi lễ hội được xác định rõ ràng trong cấu trúc chung, việc bảo tồn, phát huy và khai thác lễ hội trong bối cảnh phát triển kinh tế di sản mới có thể được thực hiện một cách bài bản, khoa học và bền vững theo những lộ trình cụ thể.
Nhìn rộng hơn, ở bối cảnh hiện tại, với sự phát triển của phương pháp nghiên cứu, hệ tiêu chí đánh giá và khả năng số hóa dữ liệu, những khảo sát khoa học về lễ hội hoàn toàn có thể được phát triển và hoàn thiện ở quy mô lớn. Khi bản sắc và vị trí của mỗi lễ hội được xác định rõ ràng trong cấu trúc chung, việc bảo tồn, phát huy và khai thác lễ hội trong bối cảnh phát triển kinh tế di sản mới có thể được thực hiện một cách bài bản, khoa học và bền vững theo những lộ trình cụ thể.
Đặt trong toàn bộ không gian di sản
Ở góc độ quản lý và vận hành, PGS-TS Lê Văn Tấn (Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Du lịch, Trường Đại học Công đoàn) cho rằng: Dù có những bước chuyển đáng kể trong cách tổ chức, du lịch lễ hội ở Việt Nam hiện vẫn mang tính mùa vụ rất rõ rệt. Tại đó, lượng khách thường tập trung cao điểm vào tháng Giêng, sau đó giảm nhanh từ tháng Hai trở đi. Điều này phần nào cho thấy tại một số điểm đến, quy hoạch phát triển chưa thật sự đồng bộ, đặc biệt trong việc phân bổ dòng khách và tổ chức các hoạt động trải nghiệm ngoài mùa cao điểm.
"Ở giai đoạn phát triển trong tương lai, khi lượng khách tăng cao, vấn đề không chỉ là thu hút khách mà là quản trị và kiểm soát phát triển. Khai thác di sản phải bảo đảm sự hài hòa giữa phát huy và tái tạo, tránh tình trạng khai thác ồ ạt trong một thời gian ngắn rồi suy giảm giá trị" - ông nói - "Nói cách khác, phát triển du lịch lễ hội hôm nay không chỉ nhằm làm cho di sản sống lại, mà quan trọng hơn là giúp di sản sống lâu dài, bền vững trong chu trình vận hành của kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa".

Lễ khai hội Xuân Tây Yên Tử năm 2026 tại xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Danh Lam - TTXVN
Trao đổi về câu chuyện này, PGS Nguyễn Văn Huy - nguyên Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia - cho rằng: Trong giai đoạn phát triển mới, cần nhìn lễ hội trong mối quan hệ với toàn bộ không gian di sản mà nó thuộc về, thay vì chỉ tập trung vào một vài điểm trung tâm diễn ra sự kiện.
Theo ông, nhiều di sản của Việt Nam thực chất là những cấu trúc văn hóa rộng lớn, trong đó các lễ hội, di tích, cảnh quan tự nhiên và những yếu tố văn hóa liên quan đều kết nối với nhau trong một chỉnh thể. Nếu được tổ chức và khai thác hợp lý, cấu trúc này có thể tạo nên nhiều lớp trải nghiệm khác nhau, giúp du khách tiếp cận di sản không chỉ qua một mùa lễ hội mà còn qua những hành trình văn hóa - lịch sử kéo dài quanh năm.
Như lời PGS Huy, quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc (vừa được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa thế giới năm qua), có thể xem là một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận này. Lâu nay, khi nhắc tới Yên Tử, công chúng thường nghĩ ngay tới khu di tích Yên Tử hiện có, vốn gắn với mùa hội Xuân kéo dài trong ba tháng đầu năm, nơi dòng người hành hương tập trung rất đông. Tuy nhiên, theo ông Huy, giá trị của quần thể di sản này thực chất trải rộng trên toàn bộ hệ thống di tích của ba tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang và Hải Dương, gắn với nhiều di tích mang đậm dấu ấn thiền phái Trúc Lâm.

Du khách đến tham quan, chiêm bái tại đền Kiếp Bạc. Ảnh: Mạnh Tú - TTXVN
Đơn cử, tại Bắc Giang, khu vực Tây Yên Tử - nơi được xem là gắn với con đường hoằng dương Phật pháp của Phật hoàng Trần Nhân Tông - vẫn còn lưu giữ nhiều di tích quan trọng cùng hệ sinh thái rừng phong phú của khu bảo tồn thiên nhiên rộng gần 17.000 ha. Bên cạnh đó, khu vực này còn sở hữu nguồn dược liệu tự nhiên đa dạng với nhiều loài cây thuốc quý.
Theo PGS Nguyễn Văn Huy, nếu được tổ chức theo cấu trúc di sản dạng chuỗi, những không gian này hoàn toàn có thể hình thành các tuyến trải nghiệm đa dạng về hành trình theo dấu chân Phật hoàng, du lịch sinh thái, khám phá dược liệu và chăm sóc sức khỏe. Khi đó, nếu khu vực Yên Tử hiện tại vẫn giữ vai trò không gian hành hương truyền thống của mùa lễ hội, thì các khu vực khác sẽ giữ vai trò phân luồng du khách và giúp toàn bộ quần thể di sản hoạt động sôi động trong suốt cả năm.
"Phân luồng mềm"
Xa hơn, như kỳ vọng của PGS-TS Lê Văn Tấn, với những giải pháp quy hoạch và phát triển hợp lý, bản đồ du lịch lễ hội và du lịch văn hóa của Việt Nam trong tương lai sẽ hình thành một hệ thống điểm đến phát triển đồng đều hơn, thay vì chỉ tập trung vào một số "điểm nóng" quen thuộc. Khi sự phát triển được phân bố hợp lý, thương hiệu du lịch văn hóa của Việt Nam cũng sẽ được định vị rõ ràng hơn trong mắt du khách.
Song song với đó, việc điều tiết dòng khách thông qua quy hoạch tuyến điểm, xây dựng sản phẩm mới và các chính sách kích cầu cũng được xem là giải pháp cần thiết. Cách tiếp cận "phân luồng mềm" này không chỉ giúp san sẻ lượng khách giữa các vùng, mà còn tạo cơ hội cho những địa phương giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác đúng mức.
Như thế, khi bản sắc riêng được nhận diện rõ ràng, không gian di sản gắn kèm nó được khai thác theo cấu trúc hợp lý và dòng khách được điều tiết khoa học, các lễ hội tại Việt Nam sẽ không nặng về tính "mùa vụ". mà trở thành nguồn lực phát triển bền vững cho địa phương. Tại đó, giá trị kinh tế của nó cũng chính là hệ quả tự nhiên của một quá trình bảo tồn, quản trị và phát huy di sản một cách đúng đắn.
