Công nghiệp Văn hóa

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội

02/03/2026 10:55 GMT+7 Google News

Trong bối cảnh cần đổi mới tư duy phát triển văn hóa hiện nay, lễ hội truyền thống đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Đó là từ không gian sinh hoạt tín ngưỡng mang tính cộng đồng trở thành nguồn tài nguyên văn hóa có khả năng tạo lập giá trị kinh tế.

Từ nhận thức này, công tác tổ chức lễ hội truyền thống dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026 cho thấy những bước chuyển đáng chú ý, phản ánh sự dịch chuyển từ tư duy quản lý, bảo tồn sang tư duy phát triển.

Từ những đường hướng lớn…

Không thể phủ nhận, mùa lễ hội Xuân Bính Ngọ 2026 đang diễn ra trong một bối cảnh đặc biệt khi văn hóa được xác lập ở vị trí ngày càng quan trọng của chiến lược phát triển bền vững đất nước thông qua nhiều chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.

Theo đó, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cùng tinh thần Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, đã mở ra một cách tiếp cận mới: Lễ hội truyền thống không chỉ là không gian sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng mà đang từng bước được nhìn nhận như một dạng tài nguyên văn hóa có khả năng chuyển hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế di sản.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội - Ảnh 1.

Chương trình nghệ thuật “Đêm linh thiêng hào khí Thánh Gióng” tại lễ hội đền Sóc năm 2026 với màn trình diễn “Phù Đổng Thiên Vương” bùng nổ cảm của ca sĩ Đức Phúc. Ảnh: NVCC

Cụ thể, khái niệm kinh tế di sản được xác lập rõ ràng trong Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng với quan điểm: "Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản".

Việc đưa nội hàm này vào văn kiện Đại hội không chỉ mang ý nghĩa thuật ngữ, mà đánh dấu sự chuyển đổi căn bản trong nhận thức phát triển: Di sản văn hóa không còn được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ bảo tồn, mà trở thành nguồn lực nội sinh tham gia trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Tinh thần này tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, khi lần đầu đặt ra yêu cầu nhận diện đầy đủ tài nguyên văn hóa trong cấu trúc phát triển quốc gia. Nghị quyết nêu rõ: "Nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa; lấy di sản văn hóa là trung tâm và tài nguyên văn hóa số là thế mạnh, hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hóa".

Đáng chú ý, văn kiện này không dừng lại ở việc đặt ra yêu cầu bảo tồn mà nhấn mạnh cơ chế vận hành kinh tế của di sản khi xác định: "Tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia sản xuất, tiêu dùng, phản biện và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên văn hóa… hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa".

Trong cấu trúc này, lễ hội truyền thống nổi lên như một bộ phận năng động nhất của di sản văn hóa. Khác với các di tích "tĩnh", lễ hội hội tụ đồng thời nghi lễ, nghệ thuật trình diễn, tri thức dân gian, nghề thủ công, ẩm thực, du lịch và dịch vụ cộng đồng. Điều này khiến lễ hội trở thành thành phần có khả năng hình thành chuỗi giá trị kinh tế văn hóa hoàn chỉnh.

Mặt khác, Nghị quyết 80 đồng thời đặt yêu cầu phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa và du lịch văn hóa, nhấn mạnh nhiệm vụ: "Cấu trúc lại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Phát triển sản phẩm du lịch mang bản sắc văn hóa, giàu trải nghiệm; thúc đẩy du lịch thông minh, xanh, sạch, giảm phát thải… xây dựng thương hiệu điểm đến Việt Nam gắn với giá trị văn hóa".

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội - Ảnh 2.

Du khách quét mã QR Code để tìm hiểu về di tích đền Nguyễn Trãi trong khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc. Ảnh: Mạnh Tú – TTXVN

Đặc biệt, việc yêu cầu "tiến hành nghiên cứu và định giá tổng giá trị kinh tế (TEV)… biến di sản thành tài sản, hình thành mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" cho thấy di sản, trong đó có lễ hội truyền thống, đang được tiếp cận như một loại nguồn vốn phát triển thay vì chỉ là đối tượng gìn giữ, bảo tồn.

Việc tổ chức lễ hội truyền thống không còn dừng ở mục tiêu bảo tồn văn hóa, mà từng bước gắn với bài toán phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch bền vững và sinh kế cộng đồng địa phương.

Đến những chuyển động mới tại Hà Nội

Nhìn tổng thể, những chuyển động của mùa lễ hội năm 2026 cho thấy lễ hội truyền thống đang từng bước dịch chuyển từ không gian sinh hoạt văn hóa mang tính nghi lễ sang không gian sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Khi được tổ chức theo hướng công nghiệp văn hóa và gắn với phát triển du lịch bền vững, lễ hội không chỉ bảo tồn ký ức cộng đồng mà còn bắt đầu vận hành như một nguồn tài nguyên có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, mở ra tiền đề cho quá trình hình thành kinh tế di sản trong thực tiễn.

Nếu trước đây lễ hội truyền thống chủ yếu được nhìn nhận như không gian sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng mang tính thời điểm, thì mùa lễ hội Xuân Bính Ngọ 2026 đang cho thấy một sự chuyển dịch đáng chú ý trong cách tiếp cận tổ chức lễ hội ở nhiều địa phương: Chuyển lễ hội từ hoạt động tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa truyền thống thuần túy thành sản phẩm của công nghiệp văn hóa, gắn với phát triển du lịch bền vững.

Sự thay đổi này không chỉ thể hiện ở việc làm mới hình thức tổ chức mà bắt đầu từ nhận thức về vai trò của lễ hội trong cấu trúc phát triển văn hóa và kinh tế địa phương.

Đơn cử, tại Hà Nội, trong kế hoạch quản lý và tổ chức lễ hội năm 2026, mục tiêu hình thành các sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch, gia tăng trải nghiệm và nâng cao chất lượng dịch vụ đã được đặt ra rõ ràng, thay cho cách tiếp cận thiên về bảo đảm nghi thức như trước đây. Lễ hội vì vậy được nhìn nhận như một sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh, nơi yếu tố tín ngưỡng vẫn là nền tảng nhưng được vận hành theo logic của công nghiệp văn hóa với quản trị, trải nghiệm, quảng bá và tạo giá trị gia tăng.

Tư duy này nhanh chóng được phản ánh trong thực tiễn.

Tại lễ hội chùa Hương 2026 (xã Hương Sơn, Hà Nội), việc triển khai bán vé điện tử, kiểm soát bằng mã QR, lắp đặt hệ thống camera AI phân luồng giao thông hoặc thiết lập tổ phản ứng nhanh xử lý thông tin cho thấy lễ hội đang vận hành theo mô hình quản trị du lịch hiện đại. Không gian dịch vụ được sắp xếp lại theo hướng văn minh, loại bỏ những hình ảnh phản cảm từng tồn tại nhiều năm, qua đó hình thành môi trường trải nghiệm thân thiện hơn đối với du khách. Lễ hội vì thế không chỉ là hành trình hành hương mà trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa được tổ chức chuyên nghiệp.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội - Ảnh 4.

Du khách trải nghiệm công nghệ thực tế ảo tại Lễ hội Cổ Loa 2026. Ảnh: Phan Phương - TTXVN

Cùng xu hướng đó, lễ hội Cổ Loa 2026 (xã Đông Anh, Hà Nội) cho thấy cách thức chuyển hóa di sản thành trải nghiệm văn hóa thông qua công nghệ số. Không gian "Di tích - Lễ hội truyền thống số" với các ứng dụng VR360, hologram 3D và hệ thống dữ liệu số hóa cho phép người tham dự tiếp cận lịch sử bằng hình thức trực quan, sinh động.

Việc tham quan di tích, tìm hiểu truyền thuyết hoặc khám phá hiện vật không còn giới hạn ở hình thức thuyết minh truyền thống mà được mở rộng thành trải nghiệm tương tác, phù hợp với nhu cầu của công chúng hiện đại, đặc biệt là giới trẻ. Lễ hội ở đây đã vượt khỏi phạm vi nghi lễ để trở thành sản phẩm văn hóa có khả năng lan tỏa rộng rãi.

Sự mở rộng chức năng của lễ hội còn thể hiện rõ tại lễ hội Gióng đền Sóc năm 2026 (xã Sóc Sơn, Hà Nội) khi lần đầu tiên hình thành sản phẩm tour đêm cùng chương trình nghệ thuật "Đêm linh thiêng - Hào khí Thánh Gióng". Theo Ban quản lý di tích, dự kiến sản phẩm này có các trạm trải nghiệm được xây dựng theo kịch bản phân cảnh rõ ràng, hệ thống âm thanh, ánh sáng và đạo cụ được đầu tư đồng bộ, không gian di tích được chuyển hóa thành hành trình trải nghiệm văn hóa kéo dài ngoài thời gian nghi lễ truyền thống.

"Kể chuyện di sản"

Tại Quảng Ninh, lễ hội Xuân Yên Tử 2026 tiếp tục cho thấy xu hướng "kể chuyện di sản" bằng ngôn ngữ trình diễn đương đại. Chương trình nghệ thuật quy mô lớn kết hợp âm nhạc, múa và công nghệ ánh sáng hiện đại nhằm tái hiện hành trình lịch sử và tư tưởng thiền phái Trúc Lâm đã biến không gian lễ hội thành một sự kiện văn hóa lớn, thu hút đông đảo công chúng. Song song với đó, hệ thống camera AI nhận diện du khách được triển khai để kiểm soát lưu lượng và bảo đảm an toàn, cho thấy lễ hội đang được tổ chức theo tiêu chuẩn của một điểm đến du lịch quy mô lớn.

Trong khi đó, tại lễ hội mùa Xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc 2026 (Hải Phòng), việc xây dựng không gian Phật giáo Trúc Lâm và phát triển các tuyến tour chuyên đề đã mở rộng cách tiếp cận di sản theo chiều sâu trải nghiệm. Du khách không chỉ tham quan mà được tham gia thực hành thiền, thưởng trà, trải nghiệm thủ công truyền thống và khám phá hệ thống di tích liên hoàn. Lễ hội vì vậy trở thành điểm khởi đầu của một chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa - tâm linh - sinh thái, gắn kết di sản với sinh kế cộng đồng địa phương.

Rõ ràng, những chuyển động mới trong tư duy và cách thức tổ chức lễ hội hiện nay bước đầu cho thấy hiệu quả thông qua sức hút ngày càng gia tăng của các điểm đến lễ hội truyền thống trong dịp đầu Xuân năm nay.

Lượt du khách tăng mạnh dịp Tết

Từ mùng 1 đến mùng 5 tháng Giêng, lễ hội chùa Hương đón khoảng 136.000 lượt du khách, tăng 37.000 lượt so với cùng kỳ năm trước, tăng 138%.

Trong 3 ngày chính hội (từ mùng 6 đến mùng 8 tháng Giêng), lễ hội Gióng đền Sóc thu hút hơn 45.000 lượt người tham dự, lượng khách đến lễ hội dịp đầu Xuân năm nay tăng khoảng 50% so với năm trước.

Tại Quảng Ninh, chỉ trong 9 ngày Tết Nguyên đán, Khu di tích danh thắng Yên Tử đã đón gần 171.000 lượt khách du Xuân, tăng khoảng 2,2 lần so với năm 2025.

(Còn tiếp)

Công Bắc

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm