Công nghiệp Văn hóa

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 2): Bước đầu vận hành trong một chuỗi giá trị

03/03/2026 07:16 GMT+7 Google News

Những thay đổi đang diễn ra tại mùa lễ hội Xuân Bính Ngọ 2026 không còn là các hiện tượng đơn lẻ trong tổ chức hay quản lý lễ hội. Đằng sau đó là một quá trình vận động sâu hơn, khi lễ hội truyền thống từng bước vượt ra khỏi khuôn khổ sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng thuần túy để tham gia vào không gian của kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chính ở giai đoạn "bắt đầu vận hành" này, quá trình chuyển hóa lễ hội thành nguồn lực phát triển cũng bộc lộ những giới hạn mang tính cấu trúc - từ tư duy tiếp cận, cơ chế phối hợp đến năng lực tổ chức và chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành giá trị kinh tế bền vững.

Tiềm năng tạo ra chuỗi giá trị kinh tế

Đánh giá về mùa lễ hội năm 2026, TS Trần Hữu Sơn (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch) cho rằng điểm thay đổi dễ nhận thấy nhất nằm ở sự chuyển biến trong quản trị và tổ chức.

So với nhiều năm trước, mùa lễ hội năm 2026 cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về tính quy củ trong tổ chức cũng như hiệu quả quản lý. Nhiều hiện tượng tiêu cực từng tồn tại ở lễ hội đã giảm đáng kể. Ngay tại các lễ hội lớn như chùa Hương hay lễ khai ấn tại đền Trần, dư luận và người dân đều ghi nhận sự chuyển biến tích cực trong công tác điều hành và tổ chức.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 2): Bước đầu vận hành trong một chuỗi giá trị - Ảnh 1.

Cảnh đông vui của lễ hội Gầu tào bản Mông tại xã Pà Cò, Mai Châu, Hòa Bình (cũ) nay là Phú Thọ. Ảnh: Trọng Đạt - TTXVN

Theo TS Sơn, sự thay đổi này đến từ việc nhiều lễ hội đã được đưa vào các chương trình thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa. Nhờ đó, việc phục hồi và bảo tồn di sản được thực hiện bài bản hơn, đặc biệt tại khu vực miền núi. Hàng loạt lễ hội truyền thống như lễ hội Pút tồng của người Dao, lễ hội Gầu tào của người Mông, lễ hội Xuống đồng của người Tày, Nùng, Giáy… đều được khôi phục đúng nghi thức truyền thống, với sự tham gia truyền dạy trực tiếp của các nghệ nhân cho thế hệ trẻ. Điều này giúp lễ hội được thực hành chuẩn mực, giữ đúng phong tục và bản sắc văn hóa.

Bên cạnh yếu tố bảo tồn, TS Sơn còn cho biết chính quyền địa phương hiện nay cũng nhận thức rõ lễ hội không chỉ dừng lại ở sinh hoạt tín ngưỡng mà còn phải trở thành sản phẩm du lịch văn hóa. Vì vậy, tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc như Tuyên Quang, Lào Cai… các lễ hội đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Mặt khác, khi lễ hội trở thành điểm đến du lịch, chuỗi dịch vụ đi kèm cũng phát triển mạnh. Du khách sử dụng dịch vụ lưu trú cộng đồng, trải nghiệm ẩm thực bản địa và mua sắm sản phẩm đặc trưng địa phương. Các khu ẩm thực, sản phẩm OCOP, dược liệu truyền thống, thổ cẩm hay hàng thủ công đều được tiêu thụ hiệu quả. Đáng chú ý, nhiều hợp tác xã và câu lạc bộ thanh niên đã sáng tạo, phát triển thổ cẩm thành các sản phẩm ứng dụng như chăn, gối, đồ trang trí nội thất, gắn trực tiếp với thị trường du lịch.

"Không dừng lại ở hoạt động tại chỗ, sau lễ hội, các sản phẩm này tiếp tục được quảng bá thông qua nền tảng số và thương mại trực tuyến" - TS Sơn cho hay - "Tại các địa bàn như Quản Bạ (Hà Giang cũ) hay Tả Phìn ở Sa Pa (Lào Cai), nhiều sản phẩm thổ cẩm, thuốc tắm và dược liệu truyền thống đã được tiêu thụ rộng rãi tới các đô thị lớn như TP.HCM thông qua livestream và thương mại số".

Từ những biểu hiện cụ thể, ông Sơn nhấn mạnh: Lễ hội hiện nay đã vượt ra ngoài khuôn khổ sinh hoạt văn hóa đơn thuần để hình thành một lĩnh vực có thể gọi là "kinh tế di sản nghi lễ" - nơi chính các nghi lễ truyền thống trở thành sản phẩm du lịch, đồng thời kích hoạt chuỗi giá trị từ tri thức bản địa đến sản phẩm thủ công và dịch vụ cộng đồng, tạo động lực phát triển kinh tế bền vững cho địa phương.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 2): Bước đầu vận hành trong một chuỗi giá trị - Ảnh 2.

Diễn trình lễ “Pút tồng” trong lễ hội “Pút tồng” của đồng bào người Dao tại Lào Cai vào dịp đầu Xuân. Ảnh: Quốc Khánh – TTXVN

Ba thay đổi quan trọng

Quan sát từ góc độ hoạt động du lịch, PGS-TS Lê Văn Tấn (Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Du lịch, Trường Đại học Công đoàn) cũng cho rằng mùa lễ hội Xuân Bính Ngọ 2026 có 3 thay đổi.

Trước hết, từ góc độ quản lý và tổ chức, công tác điều hành lễ hội có xu hướng chuyên nghiệp và bài bản hơn. Các loại hình như du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh hay sinh thái trên thực tế luôn đan xen, bổ trợ lẫn nhau trong quá trình khai thác. Tuy nhiên, điểm đáng ghi nhận là vai trò quản lý từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là các ban quản lý tại điểm đến, đã được phát huy rõ nét hơn. Công tác chuẩn bị trước mùa lễ hội tại nhiều điểm du lịch văn hóa, tâm linh lớn như chùa Hương, Tam Chúc và một số địa phương khác được triển khai quy mô, có kế hoạch và đồng bộ hơn.

"Sự chuyển biến này thể hiện ở việc tổ chức dịch vụ, kiểm soát hoạt động kinh doanh và xử lý những vấn đề từng gây bức xúc cho du khách như tình trạng ép giá hay chất lượng dịch vụ. Không thể nói các năm trước thiếu tính chuyên nghiệp, nhưng mùa lễ hội năm 2026 cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong quản trị và vận hành" - PGS-TS Tấn nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, trong quá trình khai thác di sản phục vụ phát triển du lịch, nhận thức của lực lượng trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ đã có chuyển biến tích cực. Từ chính quyền địa phương đến đội ngũ phục vụ đều có ý thức rõ hơn trong việc hướng du khách tiếp cận các giá trị gốc, giá trị bản sắc, chân giá trị của di sản.

PGS-TS Tấn cho biết, trong quản lý văn hóa, mỗi di sản đều có "vùng lõi" và "vùng đệm". Bên cạnh việc quy hoạch, bảo tồn từ phía cơ quan quản lý, những người trực tiếp khai thác di sản cũng ngày càng chú trọng giúp du khách tiếp cận gần hơn với giá trị cốt lõi, tính nguyên bản của không gian văn hóa, thay vì chỉ khai thác các yếu tố bề nổi.

"Kinh tế di sản" nhìn từ lễ hội (Kỳ 2): Bước đầu vận hành trong một chuỗi giá trị - Ảnh 3.

Rất đông du khách đội mưa đến chùa Hương trong ngày khai hội đầu Xuân năm 2026. Ảnh: Trần Việt - TTXVN

Cuối cùng, chuyển biến thứ 3 đến từ chính phía du khách, thể hiện qua sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng du lịch. Nếu trước đây nhiều du khách có xu hướng lựa chọn các điểm đến đông người, mang tính phong trào hoặc quy mô lớn, thì trong mùa lễ hội đầu Xuân 2026 đã xuất hiện một bộ phận du khách tìm đến những không gian văn hóa, tâm linh và sinh thái còn ít được khai thác.

"Dù các điểm đến truyền thống như chùa Hương vẫn thu hút lượng khách lớn, song ngày càng có những nhóm du khách mong muốn trải nghiệm sớm các điểm đến còn mang tính tiềm năng, nơi giá trị di sản được giữ ở trạng thái gần với nguyên bản hơn. Điều này cho thấy nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa, tâm linh đang dần chuyển từ số lượng sang chiều sâu trải nghiệm" - PGS-TS Tấn dẫn chứng.

Rõ ràng, những chuyển biến - từ quản lý, cung ứng dịch vụ đến hành vi du khách - là những dấu hiệu đáng chú ý của du lịch văn hóa, lịch sử và du lịch tâm linh trong mùa lễ hội đầu Xuân năm 2026.

Vẫn vận hành thiếu chiến lược

Tuy nhiên, phía sau những tín hiệu khả quan, kinh tế lễ hội tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu và chưa hình thành được một cấu trúc phát triển bền vững. Theo TS Trần Hữu Sơn, phần lớn hoạt động khai thác giá trị lễ hội hiện nay vẫn mang tính tự phát, chủ yếu do cộng đồng địa phương chủ động triển khai.

Ở nhiều địa phương, quá trình này có sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội, đoàn thể hoặc một số tổ chức phi chính phủ. "Chẳng hạn tại Sa Pa, người dân đã hình thành các nhóm phát triển nghề trồng lan, sản xuất dược liệu, thêu dệt thổ cẩm… Những mô hình này góp phần "thổi hồn" cho sản phẩm truyền thống, giúp hàng hóa bản địa từng bước tham gia vào thị trường du lịch và dịch vụ lễ hội" - ông dẫn chứng.

Tuy vậy, theo chuyên gia này, hạn chế lớn nhất hiện nay là vẫn thiếu một chiến lược phát triển tổng thể. Để kinh tế lễ hội thực sự trở thành một bộ phận của công nghiệp văn hóa, cần có sự tham gia đồng bộ của nhiều ngành, trong đó giữ vai trò nòng cốt là lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch cùng với ngành nông nghiệp. Sự phối hợp này nhằm hình thành các sản phẩm đặc trưng địa phương, gắn trực tiếp với không gian lễ hội và trải nghiệm văn hóa của du khách.

"Quan điểm cần được xác lập rõ là lễ hội không còn chỉ là ngày hội cộng đồng mà phải trở thành không gian trải nghiệm văn hóa, nơi quảng bá và tiêu thụ sản phẩm địa phương" - TS Sơn nhấn mạnh - "Vì vậy, quá trình phát triển đòi hỏi sự tham gia sâu hơn của giới nghiên cứu và các nhà khoa học, từ việc xây dựng cơ sở lý luận về kinh tế nghi lễ đến quy hoạch vùng phát triển, xác định quy mô tổ chức và chiến lược truyền thông phù hợp".

Ông Sơn còn cho biết, trên thế giới, mô hình "kinh tế nghi lễ" đã được nghiên cứu và vận hành khá hiệu quả. Trong khi đó, tại Việt Nam, việc số hóa lễ hội, ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng bá và mở rộng thị trường vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương. Một số nơi đã triển khai tốt, nhưng nhiều địa bàn vẫn thiếu định hướng và nguồn lực hỗ trợ.

Do đó, trong giai đoạn tới, vai trò kiến tạo của chính quyền địa phương trở nên đặc biệt quan trọng, nhằm kết nối nhà khoa học, cộng đồng và doanh nghiệp để chuyển hóa lễ hội từ giá trị văn hóa sang nguồn lực phát triển bền vững của kinh tế di sản.

"Lễ hội không còn chỉ là ngày hội cộng đồng mà phải trở thành không gian trải nghiệm văn hóa, nơi quảng bá và tiêu thụ sản phẩm địa phương" - TS TRẦN HỮU SƠN.

(Còn tiếp)

Công Bắc

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm