Ngày 20/4/2026, Quốc hội bước vào đợt làm việc thứ hai của Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội Khóa XVI, với chương trình tiếp tục trình, thảo luận các dự án luật, nghị quyết còn lại trước khi biểu quyết thông qua vào cuối kỳ họp. Trong mạch thảo luận ấy, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam gợi mở một kỳ vọng lớn: từ chỗ khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, đất nước đang đi thêm một bước quan trọng để biến nhận thức ấy thành cơ chế cụ thể về đầu tư, nguồn lực, công nghiệp văn hóa, văn hóa số, nhân lực tài năng và thị trường sáng tạo.
Có những thời điểm, một văn bản chính sách không chỉ đơn thuần là tập hợp các điều khoản, mà còn phản chiếu rất rõ cách một quốc gia nhìn về tương lai của mình. Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam lần này tạo ra cảm giác như thế.
Sau nhiều năm văn hóa được nhấn mạnh như một nền tảng tinh thần của xã hội, như bản sắc của dân tộc, như sức mạnh mềm của quốc gia, thì nay những khái niệm ấy đang dần được kéo gần hơn với đời sống thực tiễn, với ngân sách, với đất đai, với thiết chế, với cơ chế đầu tư, với công nghệ số và với thị trường. Điều đó quan trọng, bởi văn hóa chỉ thật sự có sức bật khi được nuôi dưỡng bằng một hành lang thể chế đủ mạnh.

Kịch múa "Con Rồng cháu Tiên" tại đêm khai mạc Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ năm 2026. Ảnh: Thu Hương - TTXVN
Dự thảo hiện hành quy định từ phạm vi điều chỉnh, Ngày Văn hóa Việt Nam, nguồn lực phát triển văn hóa, cơ chế cho công trình trọng điểm, ưu đãi đầu tư, bảo tồn nghệ thuật truyền thống, chính sách nhân lực, đặt hàng sáng tạo, quảng bá quốc tế, chuyển đổi số cho tới quỹ văn hóa, nghệ thuật. Chỉ riêng bức tranh ấy đã cho thấy đây không còn là cách tiếp cận hẹp với văn hóa, mà là một nỗ lực thiết kế cả một hệ sinh thái phát triển.
Tinh thần của dự thảo này gắn rất gần với Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết 80 đặt văn hóa vào cấu trúc phát triển quốc gia, coi văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, thu hẹp chênh lệch về thụ hưởng văn hóa, từng bước hình thành các thương hiệu văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo có tầm vóc khu vực và quốc tế.
Có thể nói, nếu Nghị quyết 80 là định hướng chiến lược ở tầm cao, thì dự thảo nghị quyết của Quốc hội là bước đi nhằm tạo cơ sở thể chế để chiến lược ấy có cơ hội đi vào đời sống. Và chính ở điểm giao nhau giữa tầm nhìn chính trị với công cụ pháp lý ấy, một kỳ vọng mới cho văn hóa Việt Nam đang được mở ra.

Sáng 18/4/2026 tại Đường sách TP.HCM, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư (106 tuổi) và các đại biểu tham quan triển lãm “Ngày Sách và Văn hóa đọc tại TP.HCM”. Ảnh: Hữu Duyên - TTXVN
Từ một lời khẳng định đẹp đến một cam kết chính sách rõ ràng
Điều khiến người làm văn hóa chờ đợi lâu nay không phải là thêm những mỹ từ dành cho văn hóa, mà là một cam kết chính sách đủ rõ để thay đổi cách ứng xử với văn hóa trong thực tế. Vì thế, một trong những điểm sáng đầu tiên của dự thảo là khẳng định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển, đồng thời bảo đảm kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa.
Đây là một thông điệp rất mạnh. Bởi nhiều năm qua, cái khó của văn hóa không hẳn nằm ở sự thiếu quan tâm về lời nói, mà nằm ở chỗ văn hóa thường được coi là cần thiết nhưng chưa luôn luôn trở thành ưu tiên tương xứng trong phân bổ nguồn lực. Khi một tỷ lệ ngân sách được nêu thành nguyên tắc, văn hóa đã tiến thêm một bước từ "được nói nhiều" sang "được tính đến bằng nguồn lực".
Điều tích cực ở đây không chỉ là con số 2%, mà còn là sự thay đổi về tư duy. Khi ngân sách dành cho văn hóa được nhìn nhận như một khoản đầu tư cho phát triển bền vững, chúng ta bắt đầu thoát khỏi lối nghĩ xem chi cho văn hóa chỉ là chi cho biểu diễn, trưng bày, tổ chức sự kiện hoặc tu bổ di tích. Thực chất, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho môi trường sống, cho chất lượng con người, cho cảm hứng sáng tạo, cho sự gắn kết xã hội, cho sức hút của điểm đến, cho thương hiệu quốc gia, và rộng hơn nữa là cho khả năng phát triển hài hòa của đất nước. Một xã hội giàu có nhưng nghèo nàn về thẩm mỹ, lỏng lẻo về bản sắc, lạnh lẽo về tinh thần cộng đồng thì khó có thể nói là đã phát triển trọn vẹn. Bởi vậy, việc đưa nguồn lực văn hóa vào một vị trí minh bạch hơn trong cấu trúc chính sách có ý nghĩa vượt khỏi phạm vi riêng của ngành văn hóa.

Sáng 18/4, Lễ hội Điện Huệ Nam tại Huế đã diễn ra trong không khí trang trọng, thu hút hàng nghìn người. Ảnh: Trọng Dũng - TTXVN
Dự thảo cũng cho thấy sự nhạy cảm đáng ghi nhận khi bàn đến các công trình trọng điểm về văn hóa, thể thao. Theo Dự thảo, cơ quan có thẩm quyền có thể giao cho tổ chức, cá nhân có uy tín, kinh nghiệm, năng lực vượt trội thực hiện các dự án, gói thầu thuộc công trình trọng điểm có yêu cầu đặc biệt về kiến trúc, kỹ thuật, mỹ thuật; đồng thời cho phép chủ đầu tư thực hiện quy trình chỉ định thầu rút gọn trong một số trường hợp.
Nhìn theo hướng tích cực, đây là một sự thừa nhận đúng bản chất của lĩnh vực văn hóa - thể thao: có những công trình không thể chỉ đánh giá bằng tiêu chí xây dựng đơn thuần, vì trong đó còn có yếu tố biểu tượng, thẩm mỹ, ký ức đô thị, năng lực tổ chức sự kiện và tầm vóc đại diện quốc gia. Một nhà hát, một bảo tàng, một sân vận động, một trung tâm biểu diễn hoặc triển lãm hiện đại không chỉ là một địa điểm sử dụng, mà còn là nơi lưu giữ hình ảnh của một thời đại.
Chính từ tư duy ấy, chúng ta hoàn toàn có thể mạnh dạn nghĩ thêm về một cơ chế rất đáng được nghiên cứu trong tương lai: dành một tỷ lệ nhất định trong tổng mức đầu tư của các công trình hạ tầng công cộng lớn cho yếu tố nghệ thuật, mỹ thuật và văn hóa công cộng. Nhiều nước đã thực hiện tinh thần gần với "1% for art", tức trích một phần kinh phí đầu tư công cho tượng, tranh, sắp đặt nghệ thuật, cảnh quan có tính thẩm mỹ hoặc các hạng mục sáng tạo gắn với công trình. Với Việt Nam, nếu những tuyến phố mới, quảng trường mới, ga tàu mới, công viên mới, khu hành chính mới được tích hợp nghệ thuật ngay từ đầu, chúng ta sẽ không chỉ làm đẹp không gian sống, mà còn tạo ra một thị trường lành mạnh cho nghệ sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà điêu khắc. Đó cũng là cách để văn hóa hiện diện hằng ngày, không chỉ trong hội trường hoặc lễ hội, mà ngay trong nhịp sống đô thị và đời sống công cộng của người dân.

Du khách trải nghiệm in tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh). Ảnh: Đồng Thúy - TTXVN
Khi công nghiệp văn hóa bắt đầu có hạ tầng chính sách
Một trong những thay đổi dễ nhận ra nhất của dự thảo là việc văn hóa được nhìn không chỉ bằng lăng kính bảo tồn, mà còn bằng lăng kính phát triển, sản xuất, sáng tạo và thị trường.
Dự thảo đề cập việc hình thành cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai, mặt bằng; hỗ trợ đầu tư vào hạ tầng số và giải pháp công nghệ cao cho các lĩnh vực trọng tâm như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, trò chơi điện tử trên mạng; đồng thời cho phép thực hiện hợp tác công tư đối với một số thiết chế văn hóa, thể thao như nhà hát, rạp chiếu phim, trường quay, triển lãm, bảo tàng, thư viện, trung tâm văn hóa, sân vận động, nhà thi đấu và một số di tích lịch sử - văn hóa. Chỉ riêng hệ thống khái niệm và công cụ ấy cũng cho thấy một bước chuyển rõ rệt: công nghiệp văn hóa đang dần được nhìn như một ngành kinh tế sáng tạo thực thụ.

Tiết mục nghệ thuật múa Chăm trong Chương trình “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam” tỉnh Khánh Hòa năm 2026. Ảnh: Nguyễn Thành - TTXVN
Điều này rất phù hợp với tinh thần Nghị quyết 80, khi nghị quyết này khẳng định công nghiệp văn hóa không còn là một lĩnh vực bổ trợ đứng ngoài dòng chảy kinh tế, mà là một động lực tăng trưởng mới, dựa trên sự giao thoa giữa sáng tạo, bản sắc dân tộc và công nghệ hiện đại. Đó là một cách nhìn có tầm thời đại. Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới coi văn hóa là sức mạnh mềm, là lợi thế cạnh tranh, là năng lực kể chuyện quốc gia, thì Việt Nam không thể tiếp tục đứng ngoài xu thế ấy.
Chúng ta có di sản, có ẩm thực, có nghệ thuật truyền thống, có bề dày văn hiến, có chất liệu lịch sử và có sức trẻ sáng tạo. Cái còn thiếu lâu nay là một khung thể chế đủ mạnh để những tiềm năng ấy kết nối thành ngành, thành chuỗi giá trị, thành sản phẩm có khả năng lan tỏa và thương mại hóa.
Ở phương diện này, dự thảo đã mở ra một số cửa rất quan trọng. Chẳng hạn, Dự thảo đề xuất áp dụng thuế suất giá trị gia tăng 5% cho hàng hóa, dịch vụ của các hoạt động sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim, triển lãm, thể dục, thể thao, biểu diễn nghệ thuật; đồng thời đưa ra các cơ chế ưu đãi để địa phương thí điểm mô hình đô thị di sản, giữ lại nguồn thu từ di sản và tiền sử dụng, thuê đất để tái đầu tư cho hạ tầng đô thị di sản, bảo tồn và phát huy giá trị di tích.
Đây là những tín hiệu đáng mừng, bởi văn hóa chỉ có thể phát triển mạnh khi chính sách thuế, đất đai và đầu tư không đứng ngoài, càng không trở thành lực cản. Trong rất nhiều trường hợp, một chính sách thuế hợp lý có thể tạo đòn bẩy lớn hơn nhiều so với những lời động viên chung chung.
(Còn tiếp)