Không chỉ là một tập thơ về Hà Nội, Sự mê đắm của Hồ Gươm (NXB Hội Nhà văn) của nhà thơ Mỹ Bruce Weigl (do Trần Lê Khánh dịch) còn kể một câu chuyện đặc biệt về hành trình của một cựu binh Mỹ từng đi qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt ở Việt Nam, để rồi dành gần cả cuộc đời sau đó cho tình yêu với đất nước và con người nơi đây.
Trong những câu thơ viết bên Hồ Gươm, những ký ức của quá khứ dần lùi xa, nhường chỗ cho những rung cảm sâu lắng trước con người, văn hóa và vẻ đẹp của Hà Nội - một thành phố đã trở thành miền thương nhớ trong tâm hồn ông. Những cảm xúc đặc biệt này phần nào được tái hiện trong sự kiện ra mắt tập thơ diễn ra vào sáng 2/6 tại Hà Nội.
Từ một tình yêu không thể lý giải
Cuộc đời của nhà thơ Bruce Weigl chứa đựng một nghịch lý đặc biệt. Năm 18 tuổi, chàng trai trẻ người Mỹ đặt chân đến Quảng Trị với tư cách một người lính tham chiến. Nhiều thập kỷ sau, ông trở lại Việt Nam với tư cách của một nhà thơ, một người bạn gần gũi với Việt Nam mang trong mình mong muốn được gắn bó lâu dài với mảnh đất này.
Cụ thể, ông từng người lính tham chiến tại Việt Nam giai đoạn 1967 - 1968. Từ năm 1988, ông thường xuyên trở lại Hà Nội để sống, sáng tạo và dịch thuật trong sự giao hòa với văn hóa Việt Nam. Năm 2024, ông được trao tặng Huân chương Hữu nghị nhờ đóng góp tích cực trong việc tham gia dịch và quảng bá hiệu quả các tác phẩm văn học Việt Nam, tổ chức giao lưu, kết nối, góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.

Nhà thơ Bruce Weigl (trái) chia sẻ tại sự kiện ra mắt tập thơ diễn ra sáng 2/6 tại Hà Nội
Ngay trong những năm tháng chiến tranh, Bruce Weigl đã nhận ra trong mình một tình cảm khó gọi tên với đất nước mà ông được đưa đến để chiến đấu. Ông bị cuốn hút bởi cảnh sắc thiên nhiên, món ăn, cách người Việt Nam đối xử với nhau và bởi chính con người nơi đây.
Nhìn lại quãng thời gian này, ông bày tỏ: "Tôi yêu mọi thứ thuộc về nơi này. Thật là một tình huống kỳ lạ, khi bạn phải tham gia một cuộc chiến chống lại chính nơi mình cảm thấy bị thu hút, muốn tìm hiểu và muốn được kết nối".
Tình cảm này được nối dài sau khi chiến tranh kết thúc. Bruce Weigl kể, ngay từ khi còn là người lính trẻ ở Việt Nam, ông đã hình dung một ngày nào đó mình sẽ quay trở lại. Ông nhìn thấy ở những người lính Việt Nam lòng quả cảm đáng khâm phục và cảm thấy một sự gần gũi khó lý giải với đất nước này. Khi Việt Nam bước vào thời kỳ Đổi mới, giấc mơ này cuối cùng đã trở thành hiện thực.

Tập thơ "Sự mê đắm của Hồ Gươm" (NXB Hội Nhà văn) của nhà thơ Mỹ Bruce Weigl, do Trần Lê Khánh dịch
Năm 1986, trong chuyến trở lại Việt Nam theo lời mời của một vị tướng đã nghỉ hưu, ông lần đầu tiên được đưa đến Hồ Gươm.
"Khi đó, Hồ Gươm chưa phát triển như bây giờ nên vẫn giữ được vẻ mộc mạc và rất đỗi xinh đẹp. Tôi thấy có rất nhiều người đi bộ quanh hồ, và chính những bước chân ấy đã chạm đến tôi" - ông nhớ lại - "Sau đó, tôi bắt đầu tự mình đến đây vào những đêm rất muộn, khi xung quanh chỉ còn lác đác vài người. Trong sự tĩnh lặng, tôi có cảm giác như thể mặt hồ đang trò chuyện với mình. Tôi để cho trí tưởng tượng của mình đón nhận những điều đó, và rồi bắt đầu đặt bút viết nên những bài thơ".
Để rồi, tên gọi Sự mê đắm của Hồ Gươm cũng xuất phát từ những tháng ngày ông dành nhiều thời gian lang thang quanh mặt hồ, quan sát, suy ngẫm và lắng nghe nhịp sống của thành phố. Với Bruce Weigl, việc viết về Hồ Gươm là điều hoàn toàn tự nhiên bởi nơi đây đã trở thành một phần trong đời sống tinh thần của ông.
Tìm thấy một Hà Nội đẹp hơn
Bruce Weigl gọi tập thơ của mình là "một thoáng gặp gỡ với những linh hồn Hà Nội". Ông bộc bạch: "Mỗi khi trở lại Việt Nam (ít nhất hai năm một lần), những linh hồn ấy lại theo tôi, hòa vào những linh hồn khác nói thứ ngôn ngữ khác biệt. Điều kỳ diệu xảy ra khi tôi ở đây: Thơ ca trào dâng. Không phải thứ thơ viết vội trong cuồng nhiệt, mà là thứ thơ kiên nhẫn nằm trong khuôn khổ, vừa cẩn trọng vừa phóng khoáng dẫn lối".

Bruce Weigl tự tay vẽ minh họa cho tập thơ của mình
Nhà thơ còn tiết lộ, trong quãng thời gian ở Hà Nội, từ đêm khuya đến sớm tinh mơ, ông cố không cản đường những con chữ tuôn chảy nhịp nhàng như nhịp sống của thành phố ông yêu.
"Tôi muốn buông mình theo sự dẫn dắt của những điều vô hình dưới lớp bề mặt, khi lang thang quan thành phố nghìn tuổi mà nhiều lần đặt chân đã giúp tôi thông thuộc" - ông tâm sự - "Những bài thơ này là thứ tôi tìm thấy trên đường, hay đúng hơn, là thứ tìm đến tôi… Ở Hà Nội, tôi chìm sâu vào thứ gì đó vượt khỏi bản thân, một sự tự do để ngôn từ ôm lấy chân lý giản đơn, thứ tôi tin có thể làm thỏa mãn những linh hồn đã đồng hành cùng tôi".
Có lẽ chính bởi được viết từ những rung cảm chân thành như thế mà tập thơ không chỉ kể câu chuyện của riêng Bruce Weigl. Qua góc nhìn của một người nước ngoài đã gắn bó nhiều năm với Việt Nam, những hình ảnh quen thuộc của Hà Nội hiện lên với một vẻ đẹp khác, vừa gần gũi vừa mới mẻ, khiến người đọc có dịp nhìn lại chính thành phố của mình bằng một ánh nhìn khác.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) chia sẻ tại sự kiện ra mắt tập thơ
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) cho rằng, giá trị lớn nhất của tập thơ nằm ở chỗ Bruce Weigl giúp chúng ta nhìn lại chính Hà Nội của mình bằng một góc nhìn khác.
"Bruce Weigl không viết về Hà Nội, mà ông tìm ra một Hà Nội từ chính Hà Nội của chúng ta. Khi đọc tập thơ này, chúng ta một lần nữa tìm thấy một Hà Nội của chính chúng ta trong con mắt của một người khác. Và từ góc nhìn này, chúng ta tìm thấy một Hà Nội đẹp đẽ hơn" - ông Thiều nhấn mạnh.
Từ góc nhìn của người chuyển ngữ tác phẩm, nhà thơ Trần Lê Khánh cho biết, ông quyết định dịch tập thơ ngay từ lần đọc đầu tiên bởi những trang thơ chứa đầy những khoảnh khắc rất đời thường nhưng lại rất Hà Nội, rất Việt Nam. Điều khiến ông xúc động không chỉ là vẻ đẹp của ngôn từ mà còn là tình cảm chân thành của một cựu binh Mỹ dành cho mảnh đất từng đi qua trong chiến tranh.
Theo nhà thơ này, thách thức lớn nhất của quá trình chuyển ngữ kéo dài 3 năm không nằm ở kỹ thuật ngôn ngữ mà ở việc làm sao giữ được tinh thần nguyên tác. Những câu thơ tiếng Anh vốn giản dị nhưng ẩn chứa nhiều tầng cảm xúc và ngữ cảnh văn hóa đòi hỏi người dịch phải tìm được từ tiếng Việt dung dị tương ứng, vừa gần gũi với độc giả trong nước, vừa không đánh mất linh hồn của bản gốc.
Sự nỗ lực này được Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đánh giá cao khi cho rằng, bản dịch đã giữ được những phẩm chất quan trọng nhất trong thơ Bruce Weigl, đồng thời mang một vẻ đẹp rất Việt Nam, trong sáng và chính xác.

Từ trái qua: Nhà thơ Trần Lê Khánh, Bruce Weigl và Hữu Việt tại sự kiện ra mắt tập thơ
Hơn thế, điều chạm tới nhà thơ Trần Lê Khánh nhiều nhất khi đọc và dịch tập thơ không phải là những ký ức chiến tranh mà là tinh thần hướng tới tương lai. Chiến tranh hiện diện như một bài học không thể quên, nhưng không phải để con người mắc kẹt trong quá khứ. Qua những bài thơ viết về Hà Nội, ông cảm nhận được khát vọng vượt qua những đau thương cũ để hướng đến những giá trị nhân văn bền vững hơn. Có lẽ, đó cũng chính là thông điệp sâu xa nhất mà Bruce Weigl muốn gửi gắm.
Trong cái nhìn trở về quá khứ, gần 60 năm trước, Bruce Weigl đến Việt Nam bằng một chuyến hải trình dài với tư cách người lính mang theo súng đạn. Nhưng sau này, ông đã trở lại với những bài thơ. Hành trình này mang vẻ đẹp của thi ca với khả năng hàn gắn những đau thương của con người.

Nhà thơ Bruce Weigl (phải) trong một khoảnh khắc bên Hồ Gươm. Ảnh: NVCC
Và giữa rất nhiều thành phố mà Bruce Weigl từng đi qua trong đời, Hà Nội có lẽ đã trở thành nơi lưu giữ một phần tâm hồn ông. Đến mức, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tiết lộ rằng, một trong những giấc mơ lớn nhất của nhà thơ người Mỹ này là được nằm lại mãi mãi trên mảnh đất Việt Nam.
Một giấc mơ đẹp. Và cũng là minh chứng sống động cho sức hút của Hà Nội. Đó là một thành phố đã khiến một cựu binh năm nào trở thành một thi sĩ mang theo sự mê đắm suốt cuộc đời.
Về nhà thơ Bruce Weigl
Sinh tại Lorain, Ohio năm 1948, Bruce Weigl là tác giả của 14 tập thơ, trong đó có The Abundance of Nothing (2012) và Song of Napalm (1988), cả 2 đều từng vào chung kết Giải Pulitzer cho Thơ.
Năm 2019, BOA Editions, Ltd. xuất bản On the Shores of Welcome Home, tác phẩm đoạt Giải thưởng Thơ Isabella Gardner, và năm 2021 tiếp tục xuất bản tập thơ văn xuôi của ông Among Elms, in Ambush.
Ông phục vụ tại Việt Nam trong giai đoạn 1967 - 1968, nơi ông được trao Huân chương Bronze Star. Sau khi trở về Mỹ, ông theo học thơ tại Oberlin College.
Từ năm 1988, ông thường xuyên trở lại Hà Nội, làm việc cùng Hội Nhà văn Việt Nam, nơi các thành viên đã dịch nhiều tác phẩm của ông sang tiếng Việt. Ngược lại, ông cũng dịch thơ của các người lính Việt Nam (Poems from Captured Documents) và một tác phẩm của Trần Lê Khánh, The Sum of Now. Hồi ký nổi tiếng của ông về chiến tranh và hành trình trở lại Việt Nam là The Circle of Hanh (2000).
Sự nghiệp của ông đã nhận được nhiều vinh danh, bao gồm Giải thưởng Robert Creeley, Giải Paterson Poetry Prize, và The Poet's Prize của Viện Hàn lâm Các Nhà thơ Hoa Kỳ. Vì những đóng góp nghệ thuật và tầm nhìn thi ca của mình, ông đã nhận Giải thưởng Văn học Lannan năm 2006.