Công nghiệp Văn hóa

Công nghệ "mở đường" cho công nghiệp văn hóa phát triển

20/08/2026 07:03 GMT+7 Google News

Nhiều năm qua, công nghiệp văn hóa được xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Với những triển vọng từ quá trình chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ, ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, hiện đại, nhân văn, khẳng định vai trò là trụ cột và động lực tăng trưởng mới của đất nước.

Công nghệ làm thay đổi căn bản các ngành công nghiệp văn hóa

Tại Hội nghị Trung ương 9, khóa XI ngày 9/6/2014, Đảng ta lần đầu tiên khẳng định sự cần thiết phải xây dựng ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam: "Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa". Đến Đại hội XIII (2021), Đảng đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội, đồng thời chủ trương phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với thị trường văn hóa nhằm tạo ra sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước bền vững. Nếu trước đây văn hóa được xác định là "nền tảng tinh thần" của xã hội, thì trong Nghị quyết số 80-NQ/TW có tới 3 lần khẳng định: "Văn hóa, con người là nền tảng phát triển; phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc".

Dù còn non trẻ, ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Năm 2015, nhóm ngành này chiếm 2,68% GDP; năm 2019 là 3,42%; và trong giai đoạn 2018-2022, đóng góp ước đạt trên 4% GDP. Để đạt được mức đóng góp 7% GDP năm 2030 và 9% GDP năm 2045 theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, các ngành công nghiệp văn hoá sẽ phải có những bước chuyển dịch mang tính đột phá về mô hình phát triển, trong đó tác động từ cuộc cách mạng khoa học công nghệ và chuyển đổi số có ý nghĩa quan trọng.

Công nghệ "mở đường" cho công nghiệp văn hóa phát triển - Ảnh 1.

Các học sinh tham quan tại Triển lãm thành tựu Báo chí - Xuất bản. Ảnh: Tràng Dương - TTXVN

Hiện nay, công nghiệp văn hóa đã hình thành một hệ sinh thái ngày càng đa dạng với nhiều ngành nghề, như: điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản… Nhiều lĩnh vực vốn không phải là một ngành công nghệ, nhưng đang được công nghệ tái cấu trúc mạnh mẽ. Trong điện ảnh, công nghệ số như máy quay kỹ thuật số, công nghệ dựng hình 3D, kỹ xảo CGI, trường quay ảo, công nghệ LED, hậu kỳ âm thanh số, các công cụ AI… đã thay đổi gần như toàn bộ quy trình làm phim, từ tiền kỳ, quay, dựng, kỹ xảo đến phát hành; góp phần giảm đáng kể những giới hạn về không gian, thời gian và chi phí sản xuất trước đây.

Trong âm nhạc, một sản phẩm có thể được sáng tác, thu âm, phối khí, phát hành và tiếp cận người nghe trên toàn cầu mà không cần đi qua hệ thống phân phối vật lý truyền thống. Các nền tảng số đồng thời tạo ra một mô hình kinh doanh mới dựa trên dữ liệu người dùng, quảng cáo, thuê bao và bản quyền. Trong xuất bản, sách điện tử và sách nói giúp mở rộng vòng đời sản phẩm. Một cuốn sách có thể được chuyển tải trở thành audiobook, nội dung podcast, video ngắn, khóa học, sản phẩm chuyển thể hoặc một phần của hệ sinh thái nội dung rộng lớn hơn.

Đặc biệt, công nghệ thực tế ảo (VR), 3D và số hóa giúp lưu giữ, phục dựng các di tích lịch sử và đưa văn hóa đến gần hơn với công chúng. Việc chuẩn hóa và số hóa toàn diện di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị cao, quản trị dữ liệu bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hóa số… đều cần đến sự tham gia toàn diện của công nghệ số, là cơ sở để xây dựng các thiết chế "văn hóa số", "bảo tàng mở", "nhà hát di động", "thư viện số" thân thiện với mọi người, mọi lứa tuổi.

Công nghệ "mở đường" cho công nghiệp văn hóa phát triển - Ảnh 2.

Các học sinh trải nghiệm tại Triển lãm thành tựu Báo chí - Xuất bản. Ảnh: Tràng Dương - TTXVN

Hiện nay, trò chơi điện tử (game online) có thể coi là lĩnh vực tiêu biểu cho thấy rõ hiệu quả của công nghệ tác động lên năng lực xuất khẩu văn hóa của Việt Nam. Nghị quyết 80-NQ/TW đã xác định game online là một trong những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm cần phát triển trong công nghiệp văn hóa. Ngành game Việt Nam cũng ngày càng khẳng định vị thế quan trọng trong nền kinh tế số, với doanh thu ước đạt 1,66 tỷ USD năm 2025. Tốc độ tăng trưởng khoảng 9,77% mỗi năm và có thể chạm mốc 2,42 tỷ USD vào năm 2029. Đặc biệt, các báo cáo cho thấy thị trường nội địa của game Việt hiện chỉ đóng góp 5,5% tổng lượt tải, đồng nghĩa với việc gần 95% giá trị sáng tạo và sản lượng của các studio Việt đang được tiêu thụ tại thị trường quốc tế. Con số này khẳng định game mobile là một trong những mặt hàng xuất khẩu số thành công nhất của Việt Nam hiện nay.

Đáng chú ý, những năm gần đây, ý thức về vai trò lan tỏa bản sắc văn hóa Việt thông qua trò chơi đã bắt đầu hình thành. Nhiều sản phẩm trò chơi điện tử đã vượt khỏi giới hạn của một sản phẩm giải trí số để kể câu chuyện văn hóa Việt trong không gian của công nghệ và giải trí, trở thành "sứ giả văn hóa", góp phần đưa bản sắc Việt Nam chinh phục thị trường toàn cầu.

Hoàn thiện thể chế, đáp ứng nhu cầu phát triển mới

Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh những chuyển dịch lớn của văn hóa, từ coi văn hóa là một lĩnh vực sang xác lập văn hóa là trụ cột và động lực tăng trưởng mới; từ không gian văn hóa truyền thống sang đồng thời phát triển trong không gian thực và không gian số; từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp bảo tồn với sáng tạo để tạo ra tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Công nghệ "mở đường" cho công nghiệp văn hóa phát triển - Ảnh 3.

Trình diễn nhã nhạc cung đình. Ảnh: Tường Vi - TTXVN

Với việc sản phẩm văn hóa được nhìn nhận như một loại hàng hóa đặc biệt, có thể lưu thông và cạnh tranh trong môi trường kinh tế thị trường, công nghiệp văn hóa đang đóng góp ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và còn nhiều tiềm năng phát triển. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể tạo điều kiện cho công nghiệp văn hóa phát triển thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, hướng tới xây dựng nền kinh tế tri thức gắn với nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo đó, "Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035" xác định mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP quốc gia. 100% đơn vị văn hóa nghệ thuật ứng dụng công nghệ số và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Đến năm 2035, mục tiêu nâng tỷ lệ đóng góp của ngành công nghiệp này lên 8% GDP và có ít nhất 6 sự kiện quốc tế lớn hàng năm có sự góp mặt của Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí trong khu vực.

Các chuyên gia nhận định trong bối cảnh hiện nay, tác động mạnh mẽ của công nghệ và đột phá về thể chế sẽ là "chìa khóa" mở đường, giúp công nghiệp văn hóa thực hiện các mục tiêu trên. Việt Nam đã có nhiều luật điều chỉnh các ngành văn hóa như điện ảnh, xuất bản, di sản văn hóa, sở hữu trí tuệ… tuy nhiên phần lớn chúng được thiết kế theo từng ngành, từng loại hình hoạt động, trong khi công nghiệp văn hóa vận hành theo chuỗi giá trị và sự kết nối liên ngành. Một bộ phim ra đời không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về điện ảnh, mà còn liên quan đến bản quyền, đầu tư, thuế, quảng cáo, nền tảng số…; một trò chơi điện tử có thể đồng thời liên quan đến văn hóa lịch sử, mỹ thuật, âm nhạc, phần mềm, công nghệ, thương mại điện tử, dữ liệu, sở hữu trí tuệ… trước khi đến với hàng triệu người dùng; một không gian sáng tạo cần tham khảo đến luật đất đai, tài sản công, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, biểu diễn và kinh doanh… Trong đó, Việt Nam đang thiếu những cơ chế đặc thù cho ngành công nghiệp văn hóa, như kết nối văn hóa với thị trường, tài sản trí tuệ với vốn, người sáng tạo với doanh nghiệp, dữ liệu với công nghệ, hay sản phẩm Việt Nam với hệ thống phân phối toàn cầu…

Chính vì thế, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được nghiên cứu, vừa là bước tiếp theo của quá trình hoàn thiện chính sách, xác định địa vị pháp lý chính thức cho công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam, vừa được kỳ vọng trở thành bước chuyển căn bản từ chiến lược sang thể chế, từ khuyến khích sang kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa thực sự được vận hành, nơi giá trị văn hóa được tôn trọng, người sáng tạo được hưởng lợi chính đáng và nguồn lực kinh tế quay trở lại nuôi dưỡng sáng tạo.

Theo Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, các cơ chế chính sách sẽ tập trung giải quyết những vấn đề then chốt của ngành thông qua 06 chính sách trụ cột bao gồm: Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; nguồn nhân lực; hạ tầng công nghiệp văn hóa; thị trường công nghiệp văn hóa và khơi thông nguồn lực cho công nghiệp văn hóa. Có thể nói, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã có sự chuyển biến mạnh từ tư duy quản lý hỗ trợ từng lĩnh vực sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa; coi sáng tạo và tài sản trí tuệ là nguồn lực quan trọng, doanh nghiệp và người sáng tạo là chủ thể trung tâm, thị trường là động lực và hạ tầng là nền tảng của sự phát triển. Các chính sách này được kỳ vọng sẽ là nền tảng pháp lý vững chắc, giúp khơi thông nguồn lực, phát huy sức sáng tạo của người Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa, từng bước vươn ra thế giới và khẳng định bản sắc văn hóa Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Thu Hạnh/TTXVN

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm