Công nghiệp Văn hóa

Mở đường cho Công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 3 & hết): Nhà nước kiến tạo, thị trường vận hành

18/08/2026 07:48 GMT+7 Google News

Một đạo luật phát triển không được đánh giá bằng số lượng ưu đãi, quỹ hay khu sáng tạo được thành lập, mà bằng những năng lực mới mà nó tạo ra cho xã hội. Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa đang chứa đựng nhiều ý tưởng mới về tài sản trí tuệ, tài chính, hạ tầng, nguồn nhân lực và thị trường. Nhưng để trở thành một đạo luật thực sự kiến tạo, Luật cần giữ được một ranh giới rất quan trọng: Nhà nước tạo nền tảng, bảo vệ quyền và chia sẻ những rủi ro mà thị trường chưa thể gánh vác, nhưng không làm thay thị trường, không lựa chọn thay công chúng và không hành chính hóa sáng tạo.

Xin được nhắc lại: Ngày 8/9/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Tiếp đó, ngày 14/11/2025, Quyết định số 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đưa khát vọng phát triển lên một tầm cao mới: Chiến lược xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa, đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành này tăng trưởng bình quân khoảng 10% mỗi năm, đóng góp 7% GDP; đến năm 2045 hướng tới đóng góp 9% GDP, tỷ lệ sản phẩm số ngày càng cao và Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí trong khu vực.

Đặt con người, tài sản trí tuệ và dữ liệu vào trung tâm

Nhìn lại hành trình chính sách từ Quyết định 1755 đến Quyết định 2486 và những bài học thực tiễn của Hà Nội, TP.HCM, tôi cho rằng Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần tập trung trước hết vào ba nguồn lực quyết định tương lai của công nghiệp văn hóa Việt Nam: con người sáng tạo, tài sản trí tuệ và dữ liệu văn hóa. Đây không phải ba lĩnh vực tách rời, mà là ba mắt xích tạo nên sức sản xuất mới của văn hóa trong kỷ nguyên số.

Mở đường cho Công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 3 & hết): Nhà nước kiến tạo, thị trường vận hành - Ảnh 1.

Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa khu vực miền Bắc được tổ chức hôm 11/8. Ảnh: Phương Lan - TTXVN

Trước hết là con người. Nói đến công nghiệp văn hóa, đôi khi chúng ta dễ nói về công trình, khu sáng tạo, quỹ đầu tư hay sản phẩm, nhưng mọi giá trị cuối cùng đều bắt đầu từ con người. Đó không chỉ là nghệ sĩ hay nghệ nhân theo nghĩa truyền thống, mà còn là đạo diễn, nhà sản xuất, biên kịch, nhà thiết kế, lập trình viên, kỹ sư âm thanh, chuyên gia quản trị quyền, marketing, luật sư sở hữu trí tuệ, chuyên gia phân phối và những người làm công nghệ.

Nghị quyết 80 đặt con người ở vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển văn hóa; vì thế, Luật cần tạo môi trường để tài năng được phát hiện, đào tạo, trọng dụng và có khả năng sống được bằng sáng tạo. Người sáng tạo cần tự do nghề nghiệp, không gian thử nghiệm, khả năng tiếp cận tài chính, thông tin, dữ liệu và thị trường, chứ không chỉ cần thêm một vài chế độ ưu đãi.

"Một tác phẩm Việt Nam không nhất thiết phải có áo dài, đình làng hay nón lá mới có bản sắc; bản sắc còn nằm trong cách người Việt Nam hôm nay nhìn cuộc sống, yêu thương, ứng xử, kể chuyện và đối thoại với thế giới" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.

Nguồn lực thứ hai là tài sản trí tuệ. Đây nên trở thành một trong những trụ cột rõ nhất của Luật. Chuỗi giá trị cần được tổ chức theo hướng: ý tưởng - tác phẩm - tài sản trí tuệ - định giá - vốn - sản phẩm - thị trường - sản phẩm phái sinh - tái đầu tư. Trong nhiều nền công nghiệp sáng tạo phát triển, tài sản lớn nhất của doanh nghiệp không phải đất đai hay máy móc mà là bản quyền, thương hiệu, nhân vật, dữ liệu và khả năng khai thác trong tương lai. Việt Nam phải tiến tới chỗ một kịch bản tốt, một nhân vật tốt, một thương hiệu sáng tạo tốt có thể được nhìn nhận như một tài sản kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, không thể chỉ viết trong Luật rằng tài sản trí tuệ "được dùng làm tài sản bảo đảm"; phải có hệ thống định giá, dữ liệu giao dịch, chuyên gia, tổ chức trung gian, cơ chế bảo lãnh và xử lý rủi ro.

Nguồn lực thứ ba là dữ liệu văn hóa, đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên AI. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ yêu cầu phải chuyển kho tàng di sản thành dữ liệu dùng chung, tri thức số, tài sản trí tuệ và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Theo tôi, chúng ta cần thay đổi cách hiểu về số hóa. Chụp ảnh một di sản, quét một cuốn sách rồi đưa lên mạng mới chỉ là bước đầu; dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối và tái sử dụng. Một kho dữ liệu về tranh Đông Hồ có thể trở thành nguyên liệu cho thiết kế, thời trang, hoạt hình và game; dữ liệu về dân ca có thể phục vụ giáo dục, âm nhạc đương đại hay AI; dữ liệu về kiến trúc, lịch sử và di sản Hà Nội có thể trở thành nguyên liệu cho phim, trò chơi, thực tế ảo và du lịch số.

Tuy nhiên, mở dữ liệu không có nghĩa là bỏ qua quyền. Luật phải giải quyết được mối quan hệ giữa quyền tác giả, quyền của cộng đồng nắm giữ di sản, quyền lợi của nghệ nhân, bí mật thương mại và quyền tiếp cận dữ liệu. Nếu đóng dữ liệu quá chặt, sáng tạo không có nguyên liệu; nếu mở quá rộng, chủ thể quyền và cộng đồng có thể không được hưởng lợi chính đáng. Bài toán của Luật là tạo ra một không gian sử dụng hợp pháp, minh bạch và có chia sẻ lợi ích, để dữ liệu văn hóa thực sự trở thành tài nguyên phát triển.

Mở đường cho Công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 3 & hết): Nhà nước kiến tạo, thị trường vận hành - Ảnh 3.

Phát động cuộc thi Sáng tạo IP văn hóa từ di sản văn hóa phi vật thể "Phở" Hà Nội

Hệ thước đo mới để đánh giá thành công của Luật

Từ ba nguồn lực đó, tôi cho rằng triết lý của Luật cần được thể hiện bằng một nguyên tắc rõ ràng: Nhà nước không làm thay thị trường, không lựa chọn thay công chúng và không hành chính hóa sáng tạo; Nhà nước kiến tạo hạ tầng, bảo vệ quyền, chia sẻ những rủi ro mà thị trường chưa thể gánh vác và tạo cơ hội tiếp cận công bằng cho các chủ thể sáng tạo. Đây là ranh giới rất quan trọng để Luật không biến thành một lớp quản lý mới.

Dự thảo đề xuất nhiều thiết chế như sàn giao dịch, bộ công cụ sáng tạo, cơ sở dữ liệu, khu và cụm công nghiệp sáng tạo. Những ý tưởng này có thể hữu ích, nhưng không phải việc gì Nhà nước cũng cần trực tiếp làm. Một sàn giao dịch có thể do doanh nghiệp phát triển; một công cụ thiết kế có thể do startup xây dựng; một không gian sáng tạo có thể do cộng đồng vận hành. Nhà nước nên tập trung vào hạ tầng công cộng, tiêu chuẩn, dữ liệu dùng chung, khả năng liên thông và hỗ trợ những nơi mà thị trường chưa có động lực đầu tư. Chính sách công chỉ nên bước vào những khoảng trống mà thị trường chưa thể tự xử lý, chứ không thay thế thị trường ở những nơi khu vực tư nhân có thể làm tốt hơn.

Tương tự, Luật cần thay đổi tư duy ưu đãi. Tôi không cho rằng một doanh nghiệp chỉ cần đặt trong "khu công nghiệp sáng tạo" là đương nhiên được hưởng ưu đãi cao nhất, bởi như vậy chính sách văn hóa rất dễ biến thành một hình thức ưu đãi bất động sản. Điều cần đo phải là kết quả: doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu tài sản trí tuệ, bao nhiêu việc làm kỹ năng cao, đóng góp thế nào vào xuất khẩu, nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển công chúng và thương hiệu Việt Nam. Tinh thần này cũng phù hợp với yêu cầu không làm dàn trải, mỗi địa phương cần xác định một số dự án dẫn dắt, làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và đóng góp dự kiến; không bắt các địa phương cùng làm một mô hình mà phải phát huy lợi thế riêng.

Mở đường cho Công nghiệp văn hóa Việt Nam cất cánh (kỳ 3 & hết): Nhà nước kiến tạo, thị trường vận hành - Ảnh 4.

Không gian văn hoá sáng tạo - nguồn lực để phát triển công nghiệp văn hóa. Trong ảnh là các nghệ sĩ biểu diễn ca trù. Ảnh: TTXVN phát

Một vấn đề tôi đặc biệt lưu ý là nguy cơ Luật vô tình tạo ra một vòng xin - cho mới. Những khái niệm như "tài sản trí tuệ gốc trọng điểm", "sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm", "thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia" hay "sản phẩm mang bản sắc Việt Nam" đều có mục đích chính sách tốt, nhưng nếu mỗi khái niệm lại kéo theo hồ sơ, hội đồng, giấy chứng nhận và sau đó là quyền hưởng ưu đãi thì Luật phát triển có thể trở thành Luật xin công nhận. Điều này càng đáng cân nhắc với việc "chấm điểm" bản sắc Việt Nam. Tôi ủng hộ khuyến khích những sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc, nhưng bản sắc không phải một đại lượng kỹ thuật có thể định lượng hoàn toàn bằng vài tiêu chí hành chính. Một tác phẩm Việt Nam không nhất thiết phải có áo dài, đình làng hay nón lá mới có bản sắc; bản sắc còn nằm trong cách người Việt Nam hôm nay nhìn cuộc sống, yêu thương, ứng xử, kể chuyện và đối thoại với thế giới.

Nhà nước có thể đưa ra những tiêu chí khách quan để quyết định hỗ trợ như chủ thể sáng tạo Việt Nam, quyền sở hữu tài sản trí tuệ tại Việt Nam, sử dụng chất liệu văn hóa, tỷ lệ lao động trong nước, khả năng phát triển sản phẩm phái sinh, khả năng tiếp cận thị trường và đóng góp cho hình ảnh quốc gia, nhưng không nên định nghĩa thay nghệ sĩ thế nào mới là "đủ Việt Nam". Cùng với đó, mọi chương trình hỗ trợ phải đi kèm minh bạch: tiêu chí phải công khai trước; hội đồng chuyên gia phải độc lập và kê khai xung đột lợi ích; kết quả lựa chọn cần được giải trình; dự án được hỗ trợ phải được đánh giá sau một khoảng thời gian. Quản trị hiện đại phải dựa trên hiệu quả, minh bạch, trách nhiệm giải trình và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Cuối cùng, chúng ta cần một hệ thước đo mới để đánh giá thành công của Luật. Đừng chỉ hỏi đã thành lập bao nhiêu quỹ, bao nhiêu khu sáng tạo hay xây thêm bao nhiêu công trình. Hãy hỏi: có bao nhiêu người sống được bằng sáng tạo, có bao nhiêu tài sản trí tuệ Việt Nam có giá trị, có bao nhiêu doanh nghiệp văn hóa lớn lên, có bao nhiêu sản phẩm bước ra thị trường quốc tế, công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu vào GDP và GRDP, người dân có được tiếp cận nhiều sản phẩm tốt hơn hay không, hình ảnh Việt Nam có hấp dẫn hơn trong mắt thế giới hay không. Nếu Luật tạo ra được những thay đổi đó, chúng ta mới thực sự chuyển từ phát triển văn hóa bằng những chương trình và dự án sang phát triển văn hóa bằng một hệ sinh thái có khả năng tự vận động, tự sáng tạo và tạo ra giá trị.

Chính sách phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo)

Điều 6 dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa nêu:

1. Nhà nước ưu tiên phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hoá Việt Nam bảo đảm cân bằng các thành tố của hệ sinh thái, liên kết giữa các chủ thể, các công đoạn trong chuỗi giá trị và hoạt động hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá.

2. Nhà nước ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của các công đoạn trong chuỗi giá trị và hoạt động hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá theo quy định của pháp luật, ưu tiên các hoạt động phát triển hạ tầng, nhân lực, tài sản trí tuệ và thúc đẩy hình thành sản phẩm công nghiệp văn hoá trọng điểm, mang bản sắc văn hoá Việt Nam, có giá trị kinh tế và giá trị xã hội, có khả năng xuất khẩu.

3. Nhà nước ưu tiên bố trí vốn ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển, vận hành hạ tầng công nghiệp văn hoá có tính chất chiến lược, liên vùng, có khả năng lan toả, hình thành hệ sinh thái sáng tạo, tạo động lực phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; công trình hạ tầng công nghiệp văn hoá quốc gia; tổ hợp sáng tạo văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hoá; hạ tầng văn hoá số. Khuyến khích huy động mọi nguồn lực hợp pháp để đầu tư phát triển hạ tầng công nghiệp văn hoá, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt, khu vực tư nhân, cộng đồng và hợp tác công tư tham gia đầu tư, quản lý, vận hành, khai thác hạ tầng.

4. Nhà nước ưu tiên xây dựng chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hoá có kỹ năng liên ngành, có khả năng kết nối nhiều công đoạn hoặc toàn bộ chuỗi giá trị và hoạt động hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá.

5. Nhà nước thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với khoản vay được bảo đảm bằng tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa trong giai đoạn hình thành thị trường tài chính đối với tài sản trí tuệ; mức hỗ trợ giảm dần theo mức độ phát triển của thị trường.

6. Nhà nước ưu tiên phát triển tài sản trí tuệ gốc trong các ngành công nghiệp văn hoá, sản phẩm công nghiệp văn hoá trọng điểm, sản phẩm công nghiệp văn hoá có hàm lượng bản sắc Việt Nam.

7. Nhà nước khuyến khích phát triển hệ thống sàn giao dịch công nghiệp văn hoá nhằm thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm, quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản khác trong công nghiệp văn hoá; mở rộng thị trường trong nước và quốc tế; nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng huy động nguồn lực xã hội cho phát triển công nghiệp văn hoá.

(Theo dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa)

PGS-TS Bùi Hoài Sơn

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm