Công nghiệp Văn hóa

Chuyển đổi số văn hóa gắn với đổi mới tư duy và quản trị dữ liệu

27/10/2026 06:31 GMT+7 Google News

Chuyển đổi số văn hóa đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy, phương thức quản trị, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực văn hóa. Đây là nền tảng để phát huy giá trị văn hóa, thúc đẩy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa và tạo động lực tăng trưởng mới.

Vấn đề này được các chuyên gia tập trung làm rõ tại Hội thảo khoa học Văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới: Phát huy nguồn lực nội sinh, kiến tạo động lực tăng trưởng quốc gia do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức mới đây tại Hà Nội.

Dữ liệu văn hóa trong tư duy phát triển mới

Trong bối cảnh Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh triển khai, yêu cầu đổi mới phương thức quản trị, phát triển hạ tầng và khai thác hiệu quả nguồn lực dữ liệu ngày càng trở nên cấp thiết.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa; đồng thời đặt ra nhiệm vụ xây dựng, khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, phát triển nền tảng số dùng chung, bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuẩn hóa và số hóa toàn diện di sản văn hóa.

Chuyển đổi số văn hóa gắn với đổi mới tư duy và quản trị dữ liệu - Ảnh 1.

Ứng dụng công nghệ 3D mapping tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Theo PGS-TS Bùi Hoài Sơn (Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương), chuyển đổi số văn hóa trước hết là chuyển đổi tư duy phát triển, không đơn thuần là chuyển đổi công nghệ.

Ông cho rằng, cần phân biệt rành mạch giữa số hóa và chuyển đổi số. Số hóa có thể bắt đầu bằng một bức ảnh, tập hồ sơ được quét, mô hình 3D hay bản ghi âm. Nhưng chuyển đổi số chỉ thực sự diễn ra khi cách quản lý, bảo tồn, sáng tạo, cung cấp dịch vụ và cách người dân tiếp cận văn hóa được tổ chức lại trên cơ sở dữ liệu. Nói cách khác, tệp số là điểm khởi đầu, chứ không phải đích đến.

Từ thay đổi trong nhận thức, yêu cầu tiếp theo là phải nhìn nhận dữ liệu văn hóa như một nguồn lực chiến lược và một bộ phận của hạ tầng phát triển quốc gia. Việt Nam có kho tàng văn hóa phong phú, nhưng nếu từng bảo tàng, địa phương, lĩnh vực xây dựng cơ sở dữ liệu theo những tiêu chuẩn riêng, không thể kết nối thì sự phong phú ấy lại bị chia cắt thành những "ốc đảo dữ liệu".

Vì vậy, theo PGS-TS Bùi Hoài Sơn, cần chuyển từ tư duy "mỗi nơi xây một kho dữ liệu" sang "mỗi nơi đóng góp và chịu trách nhiệm về một phần của hệ sinh thái dữ liệu văn hóa quốc gia".

Hệ sinh thái này phải có chuẩn chung về định danh, dữ liệu mô tả, nguồn gốc, quyền sử dụng và giao thức kết nối, đồng thời tôn trọng tính đặc thù của từng loại hình di sản, thiết chế và cộng đồng chủ thể. Hệ thống quốc gia không có nghĩa mọi dữ liệu đều phải đặt trong một máy chủ tập trung. Điều quan trọng là dữ liệu ở đâu cũng có thể được nhận diện, tìm thấy và kết nối một cách an toàn, đúng thẩm quyền.

Khi đó, dữ liệu văn hóa không còn là các tập tin đứng riêng lẻ mà trở thành hạ tầng tri thức, giúp mỗi người hiểu sâu hơn về đất nước, đồng thời mở rộng khả năng phục vụ giáo dục, nghiên cứu, du lịch và những hoạt động sáng tạo.

Tuy nhiên, mở dữ liệu để khơi thông sáng tạo phải gắn với bảo vệ bản quyền, quyền của cộng đồng và chủ quyền văn hóa số. Văn hóa có đặc điểm không giống nhiều loại dữ liệu khác, bởi phía sau mỗi bản ghi, nghi lễ hay tác phẩm là con người, ký ức, niềm tin và quyền lợi của những chủ thể cụ thể.

Chuyển đổi số văn hóa gắn với đổi mới tư duy và quản trị dữ liệu - Ảnh 2.

Quét mã QR để tra cứu thông tin tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Ảnh: Phan Phương

"Không thể hiểu dữ liệu mở là đưa tất cả mọi thứ lên mạng để bất cứ ai cũng có thể lấy và sử dụng theo bất cứ cách nào" - ông Sơn nhấn mạnh - "Có những dữ liệu cần công khai rộng rãi; có những dữ liệu chỉ được khai thác theo điều kiện; có những tri thức truyền thống, thực hành thiêng, dữ liệu cá nhân hoặc tác phẩm có bản quyền phải được bảo vệ nghiêm túc".

Theo chuyên gia, nguyên tắc cần bảo đảm là mở tối đa những gì có thể mở, bảo vệ chặt chẽ những gì cần bảo vệ và minh bạch điều kiện đối với những gì chỉ có thể chia sẻ có kiểm soát. Cùng với quyền tiếp cận, phải có cơ chế ghi nhận tác giả, nghệ nhân, cộng đồng nắm giữ di sản và phân chia lợi ích công bằng khi dữ liệu được khai thác thương mại. Chỉ khi cộng đồng thấy mình được tôn trọng và được hưởng lợi, họ mới thật sự trở thành chủ thể tích cực trong quá trình chuyển đổi số.

Trên nền tảng dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và quản trị phù hợp, nhiệm vụ tiếp theo là biến dữ liệu văn hóa thành động lực sáng tạo, thành sản phẩm và cơ hội phát triển mới.

Đây là con đường nối di sản với công nghiệp văn hóa, nối trí nhớ cộng đồng với thị trường sáng tạo, nối bảo tồn với phát triển. Tuy nhiên, không nên đo thành công chỉ bằng doanh thu. Việc một trẻ em ở vùng khó khăn được tiếp cận tài liệu lịch sử sinh động, một người khuyết tật có thêm phương thức thụ hưởng nghệ thuật hoặc một giáo viên có học liệu tốt hơn từ di sản địa phương cũng là những thành quả quan trọng của chuyển đổi số văn hóa. Sau cùng, mọi công nghệ phải phục vụ con người và làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.

Để chuyển đổi số văn hóa đi vào thực chất, sự đột phá quyết định nằm ở tổ chức thực hiện, ở con người và ở cách đánh giá kết quả. Theo đó, cần sớm hoàn thiện kiến trúc và bộ tiêu chuẩn dữ liệu văn hóa quốc gia, ưu tiên kết nối dữ liệu hiện có; đào tạo nhân lực am hiểu cả công nghệ và văn hóa; đổi mới phương thức đầu tư, bảo đảm kinh phí cho chuẩn hóa, bảo quản, cập nhật và khai thác dữ liệu, đồng thời thúc đẩy hợp tác công - tư.

"Không thể hiểu dữ liệu mở là đưa tất cả mọi thứ lên mạng để bất cứ ai cũng có thể lấy và sử dụng theo bất cứ cách nào" – PGS-TS Bùi Hoài Sơn.

Mặt khác, việc triển khai cũng cần có lộ trình từ chuẩn hóa, liên thông đến phát triển ứng dụng trong giáo dục, du lịch, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo, lấy hiệu quả sử dụng dữ liệu, lợi ích của người dân và sự phát triển văn hóa làm thước đo.

Chuẩn từ gốc, nâng cao hiệu quả số hóa

Ở góc độ tổ chức thực hiện, TS Nguyễn Văn Anh (Trưởng khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) cho rằng, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về số hóa di sản, tạo cơ sở thúc đẩy hoạt động này trên phạm vi cả nước. Để hiện thực hóa những mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định, yêu cầu đặt ra là tiếp tục cụ thể hóa các quy trình, phương pháp và tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong quá trình triển khai.

"Thực tiễn đặt ra hàng loạt câu hỏi: Số hóa để làm gì? Số hóa di sản như thế nào, bằng quy trình, phương pháp và thiết bị gì? Sản phẩm phải đạt chất lượng ra sao, tại sao lại yêu cầu chất lượng ấy? Dữ liệu được lưu trữ bằng phương tiện gì, ở đâu, do ai quản lý? Bản quyền dữ liệu thuộc về ai, quyền tiếp cận và khai thác được xác định như thế nào?" - ông nhấn mạnh.

Chuyển đổi số văn hóa gắn với đổi mới tư duy và quản trị dữ liệu - Ảnh 4.

Nhân viên Bảo tàng Hà Nội đang thiết kế mô hình trưng bày 3D di tích khảo cổ học -Vườn Chuối, ứng dụng công nghệ số nhằm tái hiện không gian di tích. Ảnh: Phan Phương

Việc làm rõ những vấn đề này có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng dữ liệu, hiệu quả đầu tư và trách nhiệm quản lý. Trong thực tiễn, sự khác biệt về quy trình, thiết bị, phương pháp và yêu cầu chất lượng giữa các đơn vị triển khai có thể ảnh hưởng đến tính đồng bộ, khả năng liên thông và khai thác dữ liệu lâu dài. Vì vậy, cần có những quy định kỹ thuật thống nhất, phù hợp với đặc thù của từng loại hình di sản và yêu cầu phát triển hệ thống dữ liệu văn hóa quốc gia.

Từ yêu cầu đó, TS Nguyễn Văn Anh đề xuất xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia cho số hóa di sản dựa trên 3 nguyên tắc: Toàn diện, cụ thể và chi tiết; đáp ứng yêu cầu về số hóa di sản của UNESCO; đồng thời phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế để bảo đảm khả năng liên thông dữ liệu.

Theo TS Nguyễn Văn Anh, điểm quan trọng là việc chuẩn hóa phải bắt đầu ngay từ khâu thu thập dữ liệu. Các yêu cầu về thiết bị, phương pháp, độ chính xác, chất lượng hình ảnh, âm thanh hay mô hình số phải được xác định phù hợp với đặc điểm từng loại hình di sản. Nếu dữ liệu đầu vào không bảo đảm chất lượng, những công đoạn tiếp theo khó có thể khắc phục đầy đủ các sai lệch, mất mát thông tin.

Cùng với đó, tiêu chuẩn siêu dữ liệu và cấu trúc nội dung có vai trò chuyển những tệp ảnh, bản ghi âm hay mô hình 3D đơn thuần thành tư liệu có ý nghĩa lịch sử, văn hóa. Thông tin về niên đại, địa điểm, chủ thể, quá trình nghiên cứu và tình trạng pháp lý phải được mô tả, định danh thống nhất để hệ thống có khả năng tự động nhận diện, phân loại, tìm kiếm và liên kết.

Đối với lưu trữ và bảo quản dài hạn, yêu cầu đặt ra là bảo đảm dữ liệu vẫn có thể được khai thác sau nhiều năm, ngay cả khi thiết bị, phần mềm hoặc định dạng tệp đã thay đổi. Trong khi đó, các tiêu chuẩn khai thác và kết nối mở phải tạo điều kiện để dữ liệu của bảo tàng, di tích, địa phương có thể liên thông với những nền tảng nghiên cứu, giáo dục, du lịch và các ngành công nghiệp văn hóa.

TS Nguyễn Văn Anh nhấn mạnh, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia phải được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, cần đi trước quá trình triển khai các dự án số hóa. Khi dữ liệu đầu vào được tạo lập đúng chuẩn, việc lưu trữ, quản lý, liên thông và khai thác sau đó sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.

Từ góc độ thực tiễn, KTS Đinh Việt Phương (Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế và Giải pháp công nghệ 3DArt) cũng chỉ ra, mỗi loại hình di sản có những yêu cầu khác nhau về phương pháp, thiết bị và độ chính xác.

Việc số hóa quần thể di tích, công trình kiến trúc, hiện vật hoặc di sản phi vật thể không thể áp dụng đồng nhất một quy trình kỹ thuật. Ngay cả dữ liệu phục vụ trình chiếu, phổ biến cũng cần được phân biệt với dữ liệu phục vụ lưu trữ lâu dài, bởi yêu cầu về chất lượng và khả năng bảo quản không giống nhau.

Một điểm nghẽn khác là sự tách rời giữa nhân lực công nghệ và nhân lực văn hóa. Nhiều cán bộ văn hóa có hiểu biết sâu sắc về di sản nhưng còn khó khăn trong vận hành, quản trị hệ thống dữ liệu, trong khi người làm công nghệ cần am hiểu đặc thù văn hóa để lựa chọn phương pháp số hóa phù hợp. Bên cạnh đó, dữ liệu phân mảnh, thiếu cơ chế cấp phép, chia sẻ lợi ích và hạn chế trong cập nhật thường xuyên cũng ảnh hưởng đến khả năng phát huy giá trị của dữ liệu.

Những vấn đề đặt ra cho thấy yêu cầu cấp thiết về xây dựng hệ thống tiêu chuẩn thống nhất, phát triển nhân lực liên ngành và hoàn thiện cơ chế quản trị trong chuyển đổi số văn hóa. Đây là những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng dữ liệu, bảo đảm khả năng kết nối, khai thác lâu dài, qua đó phát huy hiệu quả nguồn lực di sản, tạo nền tảng cho hoạt động sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa.

Số hóa di sản cần 5 bước, 4 nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật

Theo TS Nguyễn Văn Anh, hoạt động số hóa di sản về cơ bản cần trải qua 5 bước, gồm khảo sát, đánh giá hiện trạng; thu thập dữ liệu thực địa; xử lý và kiểm định chất lượng; lưu trữ; khai thác và kết nối mở. Tương ứng với đó là 4 nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật: Dữ liệu đầu vào và thu thập thực địa; siêu dữ liệu và cấu trúc nội dung; lưu trữ, bảo quản dài hạn; khai thác, phát huy và kết nối mở.

Công Bắc

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm