Giữa thời buổi mà âm nhạc được sản xuất bằng máy tính, lan truyền bằng thuật toán và tiêu thụ qua những chiếc điện thoại thông minh, hơn 130 nghệ sĩ nhạc cụ dân tộc cùng xuất hiện trên một sân khấu trong chương trình hòa nhạc Âm thanh đất Việt trở thành một hình ảnh đặc biệt. Nó không chỉ gợi nhớ đến quá khứ của âm nhạc Việt Nam mà còn đặt ra câu hỏi về tương lai của những thanh âm mang bản sắc dân tộc trong nền công nghiệp văn hóa thế kỷ 21.
Chương trình hòa nhạc Âm thanh đất Việt, diễn ra lúc 20h ngày 29/5/2026 tại Phòng hòa nhạc lớn - Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, không đơn thuần là một sự kiện nghệ thuật được tổ chức nhân sự kiện 70 năm thành lập Học viện, 17 năm thành lập Dàn nhạc dân tộc Việt Nam. Đằng sau những âm thanh của các nhạc cụ bầu, nguyệt, nhị, tỳ bà, t'rưng, sáo trúc… những bản hòa tấu quy mô lớn còn là hành trình xây dựng dàn nhạc dân tộc hiện đại ở Việt Nam, nỗ lực của nhiều thế hệ nghệ sĩ trong việc đưa nhạc truyền thống vào đời sống đương đại.
Bức tranh âm nhạc của nhiều thế hệ
Ấn tượng đầu tiên mà Âm thanh đất Việt mang lại là tính đa dạng trong tư duy xây dựng chương trình, từ màn hòa tấu trống Hồi trống Lạc Hồng mở đầu đầy khí thế đến những tác phẩm như: Ông Gióng, Giữ trọn mùa Xuân, Concerto Bình minh, Non sông một dải, Đất nước thái hòa… Chương trình trở thành một hành trình âm nhạc đi qua lịch sử, văn hóa và tâm hồn Việt Nam.

8 nghệ sĩ sáo trúc trong chương trình hòa nhạc "Âm thanh đất Việt"
Đáng chú ý, trong cùng một đêm diễn, khán giả có thể thưởng thức những tác phẩm của cố nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, cố NGND Xuân Khải, bên cạnh các sáng tác của nhạc sĩ đương thời như NSND Phạm Ngọc Khôi, NSND Huỳnh Tú và lớp tác giả trẻ hơn đang tiếp tục tìm tòi những hướng biểu đạt mới như Dương Đức Thụy, NSƯT Thúy My… Chương trình còn quy tụ các nghệ sĩ solist hàng đầu hiện nay như: NSND Cồ Huy Hùng (đàn nguyệt), NSND Hoa Đăng (t'rưng), NSƯT Bùi Lê Chi và NSƯT Lệ Giang (đàn bầu), NSƯT Hoàng Anh và NSƯT Ngọc Anh (sáo trúc), Hải Đăng (đàn nhị), Vũ Diệu Thảo (tỳ bà), cùng 3 ca sĩ khách mời là NSƯT Tân Nhàn, Anh Thơ, Trọng Tấn... Đây thực sự là một cuộc gặp gỡ đặc biệt của nhiều thế hệ nhạc sĩ sáng tác, nghệ sĩ biểu diễn gắn bó với âm nhạc truyền thống dân tộc.
Nhìn từ chương trình này, âm nhạc dân tộc hiện lên như một dòng chảy liên tục. Thế hệ đi trước đặt nền móng, thế hệ sau kế thừa và tiếp tục mở rộng biên độ sáng tạo, điều đó giúp âm nhạc truyền thống tiếp tục vận động như một thực thể sống. Điều đáng nói là các tác phẩm trong chương trình đều cho thấy một đặc điểm chung: Lấy chất liệu truyền thống làm nền tảng nhưng không dừng lại ở việc tái hiện truyền thống.
"Nếu xây dựng được những chương trình biểu diễn định kỳ, những sản phẩm ghi âm chất lượng cao, những tác phẩm có sức lan tỏa rộng rãi và những không gian biểu diễn hấp dẫn, dàn nhạc dân tộc hoàn toàn có thể trở thành một thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa Việt Nam" - NHẠC SĨ, NHÀ PHÊ BÌNH NGUYỄN QUANG LONG.
Các tác phẩm được trình diễn trong chương trình cho thấy rõ nỗ lực mở rộng không gian biểu đạt của nhạc cụ dân tộc. Chúng không chỉ khai thác âm sắc truyền thống mà còn tiếp cận những hình thức âm nhạc quy mô lớn vốn thường thấy trong âm nhạc hàn lâm thế giới. Ngược lại, sự xuất hiện của tác phẩm Czardas với phần song tấu của đàn t'rưng, đàn nhị cùng dàn nhạc dân tộc cho thấy khả năng hội nhập của nhạc cụ dân tộc Việt Nam. Những nhạc cụ truyền thống có thể tiếp cận, đối thoại với những tác phẩm quốc tế và đủ sức chinh phục khán giả.
Hành trình hiện đại hóa dàn nhạc dân tộc
Nếu nhìn lại lịch sử, mô hình dàn nhạc dân tộc quy mô lớn mà khán giả chứng kiến trong Âm thanh đất Việt thực ra là một thành quả tương đối mới. Trong nhiều thế kỷ, âm nhạc truyền thống Việt Nam tồn tại chủ yếu dưới dạng hòa tấu dân gian quy mô nhỏ dùng cho nghi lễ tín ngưỡng hoặc gắn với các loại hình sân khấu như chèo, tuồng, cải lương. Mỗi loại hình đều có hệ thống nhạc cụ riêng, biên chế dàn nhạc riêng nhưng chưa hình thành khái niệm dàn nhạc dân tộc theo nghĩa hiện đại.
Phải đến nửa sau thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, việc xây dựng dàn nhạc dân tộc mới dần được hình thành. Trong hành trình ấy, nhiều thế hệ nhạc sĩ, nhà nghiên cứu và nhà giáo đã đóng vai trò tiên phong. Một trong những gương mặt đáng chú ý là NGND Hoàng Kiều. Ông thuộc lớp nhạc sĩ tiên phong trong việc suy nghĩ về khả năng tổ chức dàn nhạc dân tộc theo hướng hiện đại.
Bên cạnh sáng tác, ông và thế hệ của mình còn tham gia vào những công việc nền tảng hơn: Xây dựng biên chế dàn nhạc, viết bè cho các nhóm nhạc cụ, tìm kiếm phương thức phối khí phù hợp với đặc điểm âm thanh của nhạc cụ dân tộc Việt Nam.

NSƯT Tân Nhàn cùng dàn nhạc dân tộc Việt Nam trong chương trình hòa nhạc "Âm thanh đất Việt"
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quá trình giao lưu và học tập quốc tế của thế hệ nhạc sĩ những năm 1950 - 1960, trong đó có việc tiếp cận kinh nghiệm từ Trung Quốc, đã góp phần mang lại những tư duy mới về tổ chức dàn nhạc dân tộc. Từ giữa thế kỷ 20, Trung Quốc đã xây dựng thành công hệ thống dàn nhạc dân tộc quy mô lớn theo mô hình tương tự dàn nhạc giao hưởng. Các nhóm nhạc cụ được tổ chức mô phỏng theo biên chế dàn nhạc giao hưởng phương Tây nên được phân thành từng bộ với chức năng rõ ràng, tạo nên khả năng biểu diễn những tác phẩm phức tạp và có quy mô lớn.
Ngày nay, nhiều dàn nhạc dân tộc Trung Quốc đã trở thành thương hiệu văn hóa quốc gia, thường xuyên lưu diễn quốc tế và sở hữu lượng khán giả ổn định. Điều đáng học hỏi là hệ sinh thái phía sau dàn nhạc, bao gồm: Hệ thống đào tạo, đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp, lực lượng chỉ huy dàn nhạc, cơ chế đặt hàng tác phẩm mới và thị trường biểu diễn được xây dựng trong thời gian dài.
Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trước một cơ hội tương tự. Chúng ta có đội ngũ nghệ sĩ chất lượng, có hệ thống đào tạo tương đối hoàn chỉnh và có nhiều nhạc sĩ đương thời đang tiếp tục sáng tác cho dàn nhạc dân tộc. Điều còn thiếu là một cơ chế đủ mạnh để những nguồn lực ấy kết nối với nhau thành một hệ sinh thái sáng tạo bền vững. Nếu để ý sẽ thấy mô hình này đã được hình thành từ cách nay gần 2 thập kỷ.
Năm 2009 được xem là một dấu mốc quan trọng khi Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL (lúc bấy giờ) là ông Trần Chiến Thắng ký quyết định thành lập Dàn nhạc Dân tộc Việt Nam trực thuộc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Vị giám đốc đầu tiên là PGS-NSƯT Vũ Chí Nguyện, trong khi nhạc sĩ, NSND Phạm Ngọc Khôi gắn bó với dàn nhạc ở vai trò nhạc trưởng ngay từ thời điểm đầu. Có thể nói, đây không chỉ là một dàn nhạc biểu diễn mà còn là môi trường đào tạo, thực nghiệm và nghiên cứu nghệ thuật. Dàn nhạc từng mang hy vọng tạo một bước phát triển mới cho âm nhạc Việt Nam, góp phần khẳng định vị trí của nhạc cụ dân tộc trong không gian hòa nhạc chuyên nghiệp.
Chỉ tiếc, những hoạt động của dàn nhạc về sau này có vẻ như chưa được như kỳ vọng. Phải tới chương trình Âm thanh đất Việt vừa qua khi chứng kiến và thưởng thức trong tâm thế của giai đoạn mà đất nước đang có bước phát triển, yếu tố bản sắc dân tộc đang được coi là 1 trong những trọng tâm trong chiến lược phát triển văn hóa, nhiều khán giả mới nhìn thấy một bức tranh rõ nét hơn cho năng lực quá lớn còn tiềm ẩn của dàn nhạc.
Từ bảo tồn đến công nghiệp văn hóa
Có lẽ đây mới là câu chuyện quan trọng nhất. Trong nhiều năm, âm nhạc dân tộc thường được nhìn nhận dưới lăng kính bảo tồn. Điều đó là cần thiết, nhưng trong bối cảnh hiện nay, chỉ bảo tồn thôi chưa đủ. Một nền nghệ thuật muốn phát triển lâu dài phải tìm được công chúng của mình.

Nghệ sĩ đàn tỳ bà Vũ Diệu Thảo trong chương trình hòa nhạc "Âm thanh đất Việt"
Đối với dàn nhạc dân tộc, công chúng không chỉ khu biệt vào giới nghiên cứu hay những người làm nghề và một bộ phận nhỏ công chúng. Cần mở rộng tới nhiều đối tượng khán giả hơn, đó là khách du lịch quốc tế muốn khám phá văn hóa Việt Nam; là thế hệ trẻ tiếp cận âm nhạc qua nền tảng số; là khán giả đang tìm kiếm những trải nghiệm nghệ thuật mang bản sắc riêng trong thế giới toàn cầu hóa.
Nếu xây dựng được những chương trình biểu diễn định kỳ, những sản phẩm ghi âm chất lượng cao, những tác phẩm có sức lan tỏa rộng rãi và những không gian biểu diễn hấp dẫn, dàn nhạc dân tộc hoàn toàn có thể trở thành một thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa Việt Nam. Khi đó, giá trị của âm nhạc dân tộc không chỉ nằm ở việc lưu giữ ký ức văn hóa mà còn ở khả năng tạo ra những giá trị mới cho xã hội đương đại.
Nhiều quốc gia châu Á đã chứng minh điều đó. Họ không chỉ bảo tồn âm nhạc truyền thống mà còn biến nó thành sản phẩm văn hóa, thành thương hiệu quốc gia và thành một phần của nền kinh tế sáng tạo. Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hướng tới mục tiêu tương tự.
Khi những tiếng trống của Hồi trống Lạc Hồng vang lên mở đầu cho chương trình hòa nhạc, người nghe không chỉ cảm nhận được âm hưởng của lịch sử mà còn thấy thấp thoáng hình ảnh tương lai của dàn nhạc dân tộc. Tương lai ấy nằm ở khả năng tiếp tục sáng tạo trên nền tảng truyền thống, xây dựng những tác phẩm mới, mở rộng không gian biểu diễn và chinh phục những lớp khán giả mới.
Nhìn từ góc độ này, Âm thanh đất Việt giống như một tín hiệu cho thấy âm nhạc dân tộc Việt Nam đang đứng trước cơ hội bước sang một giai đoạn phát triển mới, một giai đoạn mà di sản không chỉ được gìn giữ, mà hoàn toàn có thể trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo, nguồn lực kinh tế và sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong thời đại hội nhập. Vì thế, cần tiếp thêm nguồn sinh khí mới để phát huy thế mạnh của dàn nhạc dân tộc Việt Nam.
Không cho điểm