Văn hoá

Phát huy nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên số từ nền tảng 40 năm đổi mới

22/10/2026 18:00 GMT+7 Google News

Sau 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đồng thời tích lũy nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

Những kết quả đạt được cùng các vấn đề đặt ra từ thực tiễn đòi hỏi tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, khơi thông và phát huy hiệu quả các nguồn lực phát triển. Trong đó, văn hóa cùng với khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ngày càng có vai trò quan trọng trong việc củng cố sức mạnh nội sinh, tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

Đây là vấn đề đáng chú ý được đặt ra tại Hội thảo khoa học quốc gia Việt Nam trên hành trình 40 năm Đổi mới và hội nhập quốc tế (1986 - 2026), diễn ra chiều 22/10 tại Hà Nội. Hội thảo do NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hội đồng Lý luận Trung ương và Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN phối hợp tổ chức.

Phát huy nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên số từ nền tảng 40 năm đổi mới - Ảnh 1.

PGS-TS Vũ Trọng Lâm (Giám đốc, Tổng Biên tập NXB Chính trị quốc gia Sự thật) phát biểu đề dẫn hội thảo. Ảnh: BTC

Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS-TS Vũ Trọng Lâm (Giám đốc, Tổng Biên tập NXB Chính trị quốc gia Sự thật) nhấn mạnh, một trong những giá trị lý luận quan trọng của 40 năm đổi mới là sự vận động ngày càng rõ hơn của mối quan hệ giữa thực tiễn, lý luận, thể chế và tổ chức thực hiện.

Theo ông, thực tiễn đặt ra vấn đề; lý luận có vai trò nhận thức, khái quát và định hướng; thể chế chuyển hóa nhận thức thành khuôn khổ hành động; còn năng lực tổ chức thực hiện quyết định mức độ hiện thực hóa chủ trương vào đời sống.

Việc tổng kết cần đi sâu lý giải nguyên nhân của những thành tựu, làm rõ các cơ chế đã tạo ra và giải phóng động lực phát triển. Đồng thời, cần nhận diện những điểm nghẽn do thể chế hóa và thực thi còn chậm, những giới hạn của mô hình phát triển và các vấn đề mới đang đặt ra.

Trong lĩnh vực văn hóa, quá trình đổi mới và hội nhập được thể hiện qua sự phục hồi các giá trị truyền thống, mở rộng giao lưu quốc tế và hình thành những phương thức sáng tạo, truyền bá, tiếp nhận văn hóa mới. Những chuyển biến này đặt ra yêu cầu phát huy bản sắc dân tộc trong mối quan hệ với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và ứng dụng các thành tựu công nghệ.

Tại hội thảo, nhiều chuyên gia đã tập trung nhận diện những biến đổi của đời sống văn hóa Việt Nam, đồng thời làm rõ yêu cầu phát huy các giá trị văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Phát huy nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên số từ nền tảng 40 năm đổi mới - Ảnh 2.

GS-TS Phạm Hồng Tung (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) phát biểu tại hội thảo

GS-TS Phạm Hồng Tung và TS Nguyễn Thị Huệ (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) nhận diện 4 xu hướng biến đổi chính của đời sống văn hóa Việt Nam. Đó là sự phục hồi các yếu tố văn hóa truyền thống; quá trình quốc tế hóa đời sống văn hóa và sự du nhập các yếu tố văn hóa ngoại lai; sự xuất hiện những yếu tố văn hóa Việt Nam mới vừa mang bản sắc dân tộc vừa có đặc điểm của thời đại; sự song hành, lồng ghép giữa đời sống văn hóa thật và đời sống văn hóa ảo.

Theo các chuyên gia, những biến đổi này gắn với sự vận động của các chuẩn mực, giá trị và những cuộc đối thoại liên văn hóa. Đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân giữ vai trò nòng cốt trong sáng tạo, mang lại sức sống mới cho các giá trị văn hóa và góp phần hình thành những sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc. Sự phát triển của đời sống văn hóa trong môi trường số đồng thời mở ra những không gian sáng tạo, phương tiện kết nối và phương thức lan tỏa giá trị mới, bên cạnh những thách thức về bản sắc.

Phát huy nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên số từ nền tảng 40 năm đổi mới - Ảnh 3.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: BTC

Từ góc độ chính sách, TS Phạm Minh Thế (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) cho rằng, Việt Nam đã từng bước định hình rõ mô hình, giải pháp, thể chế, chính sách và các lĩnh vực công nghiệp văn hóa để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, phục vụ phát triển bền vững. Chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa gắn với công nghiệp sáng tạo phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Các sản phẩm văn hóa và sáng tạo thể hiện trí tuệ, bản lĩnh, bản sắc Việt Nam, góp phần phát huy sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm và nâng cao vị thế quốc gia.

Ở tầm định hướng chiến lược, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh vai trò của văn hóa, con người đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước; đồng thời xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa. Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ xây dựng, khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, phát triển các nền tảng số dùng chung, chuẩn hóa và số hóa di sản, gắn với bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hóa số.

Yêu cầu gắn phát triển văn hóa với công nghệ, chuyển đổi số cũng được thể hiện trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết yêu cầu phát triển văn hóa số gắn với giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng và giảm thiểu những tác động tiêu cực của công nghệ số đối với xã hội.

Phát huy nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên số từ nền tảng 40 năm đổi mới - Ảnh 4.

Các đại biểu tham dự hội thảo. Ảnh: BTC

Để phát huy hiệu quả những cơ hội từ công nghệ, chất lượng nội dung, khả năng quản trị dữ liệu và sự tham gia của các chủ thể văn hóa có ý nghĩa quan trọng. Đây cũng là những vấn đề được ThS Trần Ngọc Anh (NXB Chính trị quốc gia Sự thật) phân tích khi bàn về phát triển văn hóa số gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam.

Theo đó, chuyên gia đề xuất coi dữ liệu văn hóa là một nguồn lực chiến lược; việc số hóa cần đi cùng chuẩn hóa dữ liệu, xác thực nguồn gốc, mô tả bối cảnh, xây dựng cơ chế cập nhật và bảo đảm khả năng lưu trữ lâu dài.

Bên cạnh hạ tầng dữ liệu, cần hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa, nghệ sĩ và các nhóm sáng tạo tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, đào tạo và thị trường. Những chất liệu từ lịch sử, văn học dân gian, nghệ thuật truyền thống, tri thức bản địa có thể trở thành nguồn cảm hứng cho điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử, thiết kế và các sản phẩm trải nghiệm tương tác. Quá trình này cần dựa trên nghiên cứu nghiêm túc, tôn trọng giá trị và bối cảnh của di sản.

Một yêu cầu quan trọng khác được chuyên gia nhấn mạnh là phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong quá trình số hóa di sản. Cộng đồng cần được tham gia xác định nội dung, cách thức thể hiện, phạm vi sử dụng và cơ chế chia sẻ lợi ích. Công nghệ cần hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy kỹ năng, khuyến khích thế hệ trẻ tham gia thực hành, qua đó gắn bảo tồn với sáng tạo và duy trì sức sống của di sản trong đời sống đương đại.

Tại hội thảo, các phiên làm việc còn đề cập nhiều vấn đề có ý nghĩa nền tảng đối với tiến trình đổi mới và phát triển đất nước. Các ý kiến trao đổi về công tác tư tưởng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế cùng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục gắn tổng kết thực tiễn với phát triển lý luận, chủ động thích ứng trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, đồng thời giữ vững mục tiêu phát triển và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Nhìn lại hành trình 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, những thành tựu đạt được cùng các bài học kinh nghiệm đã đúc kết là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và phát huy các nguồn lực phát triển.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc nhận diện đầy đủ những thành tựu, hạn chế và yêu cầu đặt ra từ thực tiễn không chỉ có ý nghĩa tổng kết một chặng đường lịch sử, mà còn góp phần xác định những định hướng, giải pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Công Bắc

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm