Hoàn thiện thể chế đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa không chỉ là bài toán huy động thêm nguồn vốn ngoài ngân sách, mà là bước chuyển trong tư duy phát triển, đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh cạnh tranh quốc gia.
Đây là nội dung quan trọng được nêu ra tại Hội thảo khoa học Đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam hiện nay - những vấn đề lý luận và thực tiễn, do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức sáng 26/6 tại Hà Nội.
Từ yêu cầu xây dựng phương thức phát triển mới
Theo PGS-TS Nguyễn Duy Bắc (Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), nhìn lại 40 năm đổi mới, có thể khẳng định rằng Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm phát triển văn hóa, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế và chính sách trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của thực tiễn phát triển, hệ thống thể chế văn hóa vẫn còn không ít hạn chế. Một số chính sách còn thiếu tính đồng bộ; cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa chưa thực sự hiệu quả; chưa tạo được môi trường đủ hấp dẫn để các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân, tham gia đầu tư dài hạn vào lĩnh vực văn hóa.
Trong khi đó, nhu cầu đầu tư cho phát triển văn hóa ngày càng lớn, từ bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, thiết chế văn hóa, không gian sáng tạo đến xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Nguồn lực ngân sách Nhà nước tuy giữ vai trò chủ đạo nhưng không thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.

Quang cảnh hội thảo
Chính vì vậy, theo PGS-TS Nguyễn Duy Bắc, việc huy động nguồn lực xã hội thông qua các cơ chế hợp tác công tư trở thành một yêu cầu khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và thực tiễn Việt Nam.
Ông nhấn mạnh, đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực văn hóa không đơn thuần là giải pháp huy động nguồn vốn ngoài ngân sách. Quan trọng hơn, đây là cơ chế nhằm kết hợp hiệu quả giữa vai trò kiến tạo, định hướng của Nhà nước với nguồn lực, năng lực quản trị, tính năng động và sáng tạo của khu vực tư nhân.
Thông qua đó, các giá trị văn hóa có điều kiện được bảo tồn, phát huy và chuyển hóa thành nguồn lực phát triển; các thiết chế văn hóa được đầu tư hiện đại hơn; các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có khả năng lan tỏa rộng hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội.

PGS-TS Nguyễn Duy Bắc (Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) phát biểu tại hội thảo
Thực tiễn quốc tế cho thấy, mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hóa đã trở thành công cụ quan trọng để bảo tồn di sản, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên nền tảng văn hóa. Tại Việt Nam, dù mới ở giai đoạn đầu, nhiều mô hình hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp cũng đã bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần khai thác tốt hơn các nguồn lực văn hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương.
Tuy nhiên, đây vẫn là lĩnh vực còn khá mới, có nhiều đặc thù, liên quan trực tiếp tới các giá trị tinh thần, bản sắc dân tộc và lợi ích cộng đồng. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế PPP trong lĩnh vực văn hóa cần được đặt trên nền tảng những luận cứ khoa học vững chắc, sự tổng kết thực tiễn sâu sắc và cách tiếp cận phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, múa khèn tại quảng trường chính Sapa hut hút đông đảo du khách. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN
Đồng quan điểm, PGS-TS Bùi Hoài Sơn (Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội) cho rằng, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà còn phải phát triển bền vững hơn, nhân văn hơn, dựa nhiều hơn vào tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, con người và văn hóa.
Theo ông, văn hóa không còn có thể được nhìn nhận đơn thuần như lĩnh vực thụ hưởng ngân sách hay hoạt động bảo tồn, tuyên truyền, phong trào. Văn hóa phải trở thành một nguồn lực phát triển, một hệ điều tiết xã hội, một không gian sáng tạo và một thành tố quan trọng của sức cạnh tranh quốc gia.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác định: "Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước".
Cùng với đó, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam đã cụ thể hóa một số cơ chế, chính sách mới, trong đó có bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước, khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, phát triển hạ tầng văn hóa số theo phương thức đối tác công tư và thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư.

Đông đảo khán giả hào hứng chụp ảnh lưu niệm cùng nghệ sĩ và hình tượng Đinh Bộ Lĩnh tại Show thực cảnh “ Anh hùng cờ lau” (Ninh Bình), cho thấy sức lan tỏa của sản phẩm du lịch đêm giàu giá trị lịch sử, văn hóa. Ảnh: Phạm Tuấn Anh - TTXVN
Theo PGS-TS Bùi Hoài Sơn, từ thực tiễn này, hoàn thiện thể chế về đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực văn hóa trở thành một yêu cầu cấp thiết.
"Đây không chỉ là câu chuyện huy động thêm vốn tư nhân cho văn hóa, mà sâu xa hơn là câu chuyện xây dựng một phương thức phát triển mới: Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp đồng hành, cộng đồng tham gia, lợi ích công được bảo vệ, giá trị văn hóa được phát huy và con người được đặt ở trung tâm của quá trình phát triển" - ông nhấn mạnh.
Hướng tới hoàn thiện chính sách PPP phù hợp
Ở góc độ nghiên cứu chính sách, TS Nguyễn Tiến Thư (Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực văn hóa là yêu cầu khách quan trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển văn hóa, xây dựng con người, phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng thụ hưởng văn hóa của nhân dân.
Theo ông, chủ trương của Đảng đã từng bước phát triển từ xã hội hóa hoạt động văn hóa đến yêu cầu huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa, trong đó nguồn lực Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng.
Trong khi đó, chính sách của Nhà nước đã hình thành nhiều nền tảng quan trọng, bao gồm pháp luật về PPP, chính sách xã hội hóa, chiến lược phát triển văn hóa, chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, pháp luật về di sản văn hóa, điện ảnh, sở hữu trí tuệ, quảng cáo và trí tuệ nhân tạo.

TS Nguyễn Tiến Thư (Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) phát biểu tại hội thảo
Đặc biệt, các văn bản mới gần đây, nhất là Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 162/2024/QH15, Luật Di sản văn hóa năm 2024, Nghị định số 308/2025/NĐ-CP, Nghị quyết số 28/2026/QH16 và Văn kiện Đại hội XIV, đã tạo cơ sở chính trị - pháp lý mới để phát triển PPP trong văn hóa. Điểm nổi bật là Nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt, đồng thời mở rộng cơ chế huy động nguồn lực xã hội, ưu đãi đầu tư, phát triển cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, hạ tầng số, giải pháp công nghệ cao và công nghiệp văn hóa.
Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Tiến Thư, PPP trong lĩnh vực văn hóa vẫn đang ở giai đoạn định hình. Khoảng trống lớn nhất là thiếu cơ chế chuyên ngành phù hợp với đặc thù văn hóa.
"Văn hóa vừa có giá trị công, vừa có khả năng tạo giá trị kinh tế; vừa cần bảo tồn, vừa cần sáng tạo; vừa cần ngân sách Nhà nước, vừa cần thị trường; vừa cần chuyên môn nghệ thuật, vừa cần quản trị hiện đại" - ông phân tích - "Do đó, không thể áp dụng cơ học mô hình PPP của hạ tầng kỹ thuật vào văn hóa, cũng không thể tiếp tục chỉ dựa vào khái niệm xã hội hóa chung chung".

Hoạt động thả đèn hoa đăng thu hút người dân và du khách tại "Đêm Hội Hoa Đăng Hồ Văn - Văn Miếu". Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
Từ đây, TS Nguyễn Tiến Thư chỉ ra hàng loạt vấn đề cần được giải quyết trong quá trình hoàn thiện chính sách PPP.
Trước hết là khoảng trống pháp lý khi văn hóa chưa được thiết kế như một lĩnh vực PPP đặc thù với cơ chế riêng phù hợp. Tiếp đó là bài toán xác định dòng tiền và phương án tài chính đối với các dự án văn hóa có nguồn thu đa dạng, thời gian hoàn vốn dài và hiệu quả xã hội khó lượng hóa.
Bên cạnh đó là nguy cơ thương mại hóa, làm lệch mục tiêu công nếu thiếu cơ chế bảo vệ các giá trị văn hóa; yêu cầu bảo đảm tính minh bạch trong quản lý tài sản công, đất đai và trách nhiệm giải trình; những vấn đề mới liên quan đến sở hữu trí tuệ, dữ liệu văn hóa và trí tuệ nhân tạo trong bối cảnh chuyển đổi số; cũng như năng lực chuẩn bị, đàm phán và quản lý hợp đồng của khu vực công.

Du khách trải nghiệm Tour Đêm Đền Hùng và tour “Du xuân Đất Tổ – Hành trình về cội nguồn dân tộc”. Ảnh: Đào An-TTXVN
Rõ ràng, việc hoàn thiện chính sách PPP trong lĩnh vực văn hóa không chỉ là bổ sung cơ chế huy động nguồn lực mà còn đòi hỏi xây dựng một khuôn khổ thể chế phù hợp với những đặc thù của văn hóa, bảo đảm hài hòa giữa hiệu quả đầu tư và lợi ích công.
Từ yêu cầu này, TS Thư đề xuất, trong thời gian tới, cần xác lập văn hóa là lĩnh vực cần có cơ chế PPP phù hợp; xây dựng danh mục dự án ưu tiên; thiết kế cơ chế tài chính hỗn hợp; bảo vệ quyền tiếp cận văn hóa của nhân dân; quản lý chặt chẽ tài sản công; bảo vệ dữ liệu văn hóa, bản quyền và quyền cộng đồng; nâng cao năng lực khu vực công; thí điểm các mô hình mới; và tăng cường giám sát, trách nhiệm giải trình.
Theo chuyên gia này, nếu được thiết kế đúng, PPP sẽ không làm suy giảm vai trò của Nhà nước trong văn hóa, mà ngược lại, giúp Nhà nước thực hiện tốt hơn vai trò kiến tạo, dẫn dắt, điều tiết và bảo đảm lợi ích công. Đồng thời, PPP sẽ mở ra không gian để doanh nghiệp, cộng đồng, nghệ sĩ, trí thức và người dân cùng tham gia phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên mới.