Chuyển đổi số và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang đặt giáo dục nghệ thuật trước yêu cầu đổi mới toàn diện, không chỉ dừng ở thay đổi công cụ hoặc số hóa học liệu. Vấn đề cốt lõi là ứng dụng công nghệ để đổi mới thực chất quá trình dạy và học, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, trải nghiệm và mở rộng cơ hội thụ hưởng nghệ thuật của người học.
Sự đổi mới này phải được thực hiện trên nền tảng văn hóa, giá trị truyền thống dân tộc, qua đó góp phần phát triển con người Việt Nam toàn diện trong thời đại số.
Từ những định hướng phát triển chiến lược
Trong nhiều định hướng phát triển chiến lược quốc gia gần đây, việc nâng cao năng lực số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo được đặt song hành với giáo dục tư tưởng, truyền thống, đạo đức, thẩm mỹ và mở rộng cơ hội tham gia hoạt động nghệ thuật của người học.
Trên bình diện chung, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác lập động lực cho quá trình hiện đại hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục.
Tiếp đó, Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu xây dựng nền giáo dục hiện đại, phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát huy khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân và chủ động thích ứng với những tiến bộ mới nhất của khoa học, công nghệ.

)Giáo viên truyền dạy những giá trị văn hóa truyền thống cho học sinh trường PTDTBT THCS Nàn Ma (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ - TTXVN
Đặc biệt, những yêu cầu trực tiếp đối với giáo dục nghệ thuật được xác định rõ hơn trong Nghị quyết số 71-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Cụ thể, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra yêu cầu: "Chú trọng giáo dục tư tưởng, truyền thống, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp, kỹ năng mềm; tăng thời lượng các môn khoa học, công nghệ, tin học, nghệ thuật; nghiên cứu đưa kiến thức về năng lực số, trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo dục phổ thông".
Việc đặt giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật cùng với khoa học, công nghệ, tin học và trí tuệ nhân tạo trong một định hướng cho thấy yêu cầu phát triển người học phải được thực hiện toàn diện. Nhà trường không chỉ chuẩn bị năng lực thích ứng với công nghệ, mà còn phải bồi đắp những giá trị và năng lực giúp người học làm chủ quá trình sáng tạo.
Từ góc độ phát triển văn hóa, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra chỉ tiêu: "100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa"; đồng thời yêu cầu: "Đổi mới giáo dục nghệ thuật trong các cơ sở giáo dục, giúp học sinh phát triển năng khiếu, chuẩn bị nguồn nhân lực sớm và định hướng thị hiếu thẩm mỹ".
Đáng chú ý, Nghị quyết không chỉ đặt mục tiêu bảo đảm 100% người học được tiếp cận giáo dục nghệ thuật mà còn yêu cầu việc tham gia phải hiệu quả và thường xuyên. Điều này xác định giáo dục nghệ thuật là một bộ phận cần thiết của quá trình giáo dục, thay vì hoạt động bổ trợ hoặc phong trào mang tính thời điểm.
Rõ ràng, các định hướng chính sách đã đặt đổi mới giáo dục nghệ thuật trong mối quan hệ đồng thời với chuyển đổi số và phát triển con người. Công nghệ mở ra phương tiện và không gian mới cho giáo dục, nhưng giáo dục thẩm mỹ tiếp tục giữ vai trò bồi đắp năng lực cảm thụ, sáng tạo và định hướng giá trị.
Cảm nhận và sáng tạo cái đẹp
Từ quan điểm này, PGS-TS Nguyễn Đức Sơn (Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) cho rằng, dù giáo dục nhân loại đã trải qua hàng nghìn năm phát triển, một trong những mục tiêu gần như không thay đổi vẫn là giúp thế hệ trẻ cảm nhận được cái đẹp và cao hơn là có khả năng sáng tạo ra cái đẹp. Đó chính là giáo dục thẩm mỹ, một mục tiêu gắn bó chặt chẽ với các phương diện khác của quá trình hình thành con người.
"Khi một đứa trẻ biết yêu cái đẹp và rung động trước cái đẹp, các em cũng có cơ sở để biết rung động trước những chuẩn mực đạo đức, biết vận dụng trí tuệ vào việc tạo ra những giá trị tốt đẹp và hướng tới cái thiện" - ông dẫn chứng. Bởi vậy, giáo dục nghệ thuật không chỉ nhằm hình thành kỹ năng biểu diễn, tạo hình hoặc cung cấp tri thức về nghệ thuật. Ý nghĩa sâu xa hơn của lĩnh vực này nằm ở khả năng nuôi dưỡng đời sống tinh thần, năng lực cảm thụ và sự phát triển hài hòa của nhân cách.
Trong bối cảnh hiện nay, PGS Sơn nhìn nhận vai trò này càng trở nên rõ nét. AI có thể thực hiện ngày càng tốt nhiều thao tác dựa trên logic và thuật toán; song nếu những lập luận logic đơn thuần bị tách khỏi nhân tính, sự phát triển của công nghệ có thể đưa xã hội đến những hệ quả khó lường.
"Khi đó, những rung động trước cái đẹp, tình cảm đạo đức, giá trị dân tộc và giá trị thẩm mỹ trở thành những trụ cột nâng đỡ con người, đồng thời góp phần xác lập ranh giới giữa con người với máy móc" - ông nhấn mạnh.
Vấn đề đặt ra đối với giáo dục nghệ thuật trong thời đại số, vì thế, không phải là cạnh tranh với khả năng tạo lập sản phẩm của AI. Điều quan trọng hơn là bồi dưỡng ở người học khả năng nhận biết giá trị, chiều sâu cảm xúc, ý thức về nguồn cội văn hóa và trách nhiệm đối với lựa chọn sáng tạo của mình. Công nghệ có thể hỗ trợ quá trình học tập và mở rộng phương tiện biểu đạt, nhưng không thể thay thế mục tiêu giáo dục con người biết cảm nhận, biết phán đoán và biết hướng năng lực sáng tạo tới những giá trị tốt đẹp.
Từ đây, PGS Sơn cho rằng, đột phá về giáo dục, khoa học và công nghệ phải được nảy sinh trên nền văn hóa, hệ giá trị và truyền thống dân tộc. Chỉ khi được đặt trên nền tảng này, những thành tựu công nghệ mới có thể góp phần tạo nên một triển vọng phát triển tốt đẹp cho con người và xã hội Việt Nam.
Đây cũng là điểm gặp nhau giữa yêu cầu thích ứng chuyển đổi số với nhiệm vụ đổi mới giáo dục nghệ thuật, đó là chuẩn bị cho thế hệ trẻ khả năng làm chủ công nghệ, nhưng đồng thời phải bồi đắp những giá trị giúp các em giữ vững vai trò chủ thể, bản lĩnh văn hóa và chiều sâu nhân văn trong quá trình sáng tạo.
(Còn nữa)