Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang đặt ra một yêu cầu rất mới: Nhà nước không chỉ quản lý, mà phải kiến tạo hệ sinh thái để nguồn lực sáng tạo, doanh nghiệp, tài sản trí tuệ và thị trường cùng vận hành.
Trong điện ảnh, câu chuyện ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí sản xuất phim chính là một phép thử cụ thể cho tư duy ấy: Làm thế nào để một đồng vốn công không thay thế thị trường, nhưng đủ sức dẫn dắt nhiều đồng vốn xã hội, tạo thêm tác phẩm có giá trị, mở rộng công chúng và đưa điện ảnh Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp văn hóa thực sự.
Từ "Nhà nước làm phim" đến "Nhà nước kích hoạt nguồn lực làm phim"
Trong nhiều năm, khi nói đến phim sử dụng ngân sách Nhà nước, cách hình dung quen thuộc thường là Nhà nước lựa chọn một số đề tài, cấp toàn bộ kinh phí rồi tổ chức sản xuất theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu.
Cách làm này có ý nghĩa trong những giai đoạn nhất định, nhất là với các tác phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, lịch sử, giáo dục, đối ngoại. Nhưng trong điều kiện điện ảnh đã vận hành ngày càng rõ theo logic của thị trường, công nghệ và chuỗi giá trị, việc Nhà nước tiếp tục "đứng ra làm thay" thị trường sẽ khó tạo được quy mô tác động đủ lớn.

Hội thảo “Diện mạo điện ảnh Việt Nam thời đổi mới” tại Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần thứ IV. Ảnh: Trần Lê Lâm
Vấn đề không phải là Nhà nước rút khỏi điện ảnh. Ngược lại, Nhà nước phải hiện diện đúng vai trò hơn: Lựa chọn những mục tiêu công mà thị trường khó tự bảo đảm, dùng ngân sách như một nguồn vốn mồi, một tín hiệu chính sách và một công cụ chia sẻ rủi ro để kích hoạt sự tham gia của doanh nghiệp, nhà sản xuất, quỹ đầu tư và các nguồn lực hợp pháp khác.
Khi đó, cùng một nguồn ngân sách, thay vì chỉ đủ làm trọn gói một số ít bộ phim, có thể hỗ trợ nhiều dự án hơn, tạo thêm nhiều cơ hội sáng tạo hơn và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của chính sách.
Đây cũng là tinh thần rất gần với Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, đồng thời nhấn mạnh nguồn lực Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng. Với điện ảnh, tư duy ấy cần được chuyển thành một cơ chế cụ thể: Ngân sách Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần đối với những dự án đáp ứng tiêu chí về nội dung, chất lượng, khả năng huy động nguồn lực xã hội và tiềm năng tiếp cận công chúng.
Một "hành lang chung" cho công nghiệp văn hoá
Cần tránh biến Luật Phát triển công nghiệp văn hóa thành một "luật chuyên ngành thứ hai" cho từng lĩnh vực. Luật này nên xác lập các nguyên tắc và công cụ chung của hệ sinh thái: Huy động nguồn lực, hỗ trợ có điều kiện, chia sẻ rủi ro, khai thác tài sản trí tuệ, hợp tác công - tư, dữ liệu thị trường, trách nhiệm giải trình và hậu kiểm. Các cơ chế riêng của điện ảnh cần được cụ thể hóa đồng bộ trong pháp luật điện ảnh và văn bản hướng dẫn.
Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với những đề tài mà Nhà nước cần khuyến khích nhưng thị trường thường e ngại vì chi phí cao, rủi ro lớn hoặc thời gian thu hồi vốn dài, đó là các đề tài về lịch sử, cách mạng, chiến tranh, danh nhân, văn hóa và con người Việt Nam... Nếu chỉ trông vào ngân sách, số lượng tác phẩm sẽ luôn bị giới hạn. Nếu chỉ trông vào thị trường, nhiều đề tài quan trọng có thể không đủ sức hấp dẫn về mặt đầu tư. Hỗ trợ một phần chính là điểm gặp giữa mục tiêu công và động lực kinh doanh.
Điều quan trọng hơn, cơ chế này góp phần thay đổi một quan niệm đã tồn tại khá lâu: Phim có ngân sách Nhà nước không đồng nghĩa với phim đứng ngoài thị trường. Một tác phẩm càng có giá trị tư tưởng, văn hóa, lịch sử thì càng cần được kể bằng ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, được đầu tư chuyên nghiệp, được phát hành rộng rãi và chinh phục khán giả bằng chất lượng. Mục tiêu của chính sách không nên là "hoàn thành một bộ phim", mà phải là tạo ra một tác phẩm có đời sống xã hội, có khả năng lan tỏa và, nếu có điều kiện, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nhà nước kiến tạo, thị trường vận hành, lợi ích công được bảo đảm
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang tiếp cận công nghiệp văn hóa như một hệ sinh thái, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể tham gia toàn bộ chuỗi giá trị từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, phổ biến, thương mại hóa đến tái đầu tư.
Điện ảnh là lĩnh vực rất thích hợp để hiện thực hóa cách tiếp cận đó, bởi đây vừa là nghệ thuật, vừa là ngành công nghiệp có khả năng tạo doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ, du lịch và sức mạnh mềm.
Tại phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu "chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển". Đồng chí đồng thời chỉ rõ khoảng trống giữa vốn văn hóa phong phú với năng lực sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm văn hóa. Với điện ảnh, muốn lấp khoảng trống ấy thì cơ chế tài chính công phải được thiết kế để kéo thị trường vào cùng làm, chứ không đẩy thị trường ra ngoài.
Vì thế, khoản ngân sách hỗ trợ một phần không nên được nhìn như một khoản đầu tư kinh doanh của Nhà nước với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Mục tiêu trước hết là mục tiêu chính sách công: Hỗ trợ sáng tạo, định hướng những nội dung cần thiết cho xã hội, phát triển thị trường điện ảnh, tạo tác phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, văn hóa, giáo dục và đối ngoại. Khả năng thu hồi vốn không thể trở thành điều kiện quyết định để lựa chọn dự án, bởi nếu chỉ chọn dự án chắc chắn sinh lời thì Nhà nước sẽ không còn lý do phải hỗ trợ.

Thành công của "Mưa đỏ" cho thấy sức hút của những bộ phim về đề tài lịch sử, cách mạng. Ảnh: NSXCC
Nhưng đã có hoạt động thương mại thì cũng không thể bỏ qua kỷ luật tài chính. Khi phim phát sinh doanh thu, đơn vị nhận hỗ trợ phải có nghĩa vụ hoàn trả một phần cho ngân sách theo nguyên tắc, tỷ lệ và thời hạn được quy định rõ. Cơ chế này tạo ra vòng tuần hoàn tích cực: Ngân sách hỗ trợ sáng tạo; thị trường kiểm nghiệm tác phẩm; doanh thu tạo nguồn hoàn trả; nguồn hoàn trả tiếp tục bổ sung cho những dự án mới. Đây là cách để chính sách công vừa chấp nhận rủi ro sáng tạo, vừa nâng cao trách nhiệm sử dụng tiền công.
Cùng với đó, phải xử lý thỏa đáng vấn đề quyền. Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí không nhất thiết đồng nghĩa với việc Nhà nước đồng sở hữu toàn bộ quyền tài sản của bộ phim. Nếu quy định quá rộng, doanh nghiệp sẽ mất động lực đầu tư và khó khai thác thương mại. Nhưng Nhà nước phải có các quyền sử dụng cần thiết, tương xứng với khoản hỗ trợ, để phổ biến phim không vì mục đích thương mại phục vụ Nhân dân, nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền, giáo dục, đối ngoại, ngoại giao văn hóa, liên hoan phim, tuần phim và các nhiệm vụ công khác.
Điểm cân bằng ở đây rất quan trọng: Doanh nghiệp được chủ động phát hành và khai thác thương mại để tối ưu doanh thu; Nhà nước có quyền sử dụng cho mục tiêu công theo điều kiện đã thỏa thuận; 2 quyền này không triệt tiêu nhau. Nếu thiết kế tốt, Nhà nước không cần bỏ 100% kinh phí vẫn có được khả năng sử dụng tác phẩm cho nhiệm vụ công, trong khi tác phẩm vẫn sống được bằng thị trường. Chính sự đồng tồn tại của giá trị công và giá trị thương mại mới phản ánh đúng bản chất của công nghiệp văn hóa.
Luật cần mở đường cho một cơ chế đơn giản, minh bạch và có thể nhân rộng
Từ câu chuyện điện ảnh có thể thấy một yêu cầu lớn đối với Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xây dựng: Luật không nên chỉ dừng ở những tuyên bố khuyến khích, mà phải tạo được một kiến trúc pháp lý để các nguồn lực công và tư có thể gặp nhau an toàn, minh bạch và hiệu quả.
Đáng chú ý, dự thảo sửa đổi Luật Điện ảnh hiện đã đề xuất bổ sung Điều 14a về sản xuất phim sử dụng một phần ngân sách Nhà nước, theo hướng Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư, sản xuất phim phục vụ nhiệm vụ chính trị. Đây là một bước mở quan trọng. Nhưng để cơ chế đi vào cuộc sống, phần khó nhất không nằm ở câu chữ "hỗ trợ một phần", mà ở thiết kế vận hành phía sau.

Các em thiếu nhi hào hứng xem các bộ phim hoạt hình Việt Nam tại Hội chợ mùa Thu vừa qua. Ảnh: Phương Lan
Trước hết, tiêu chí lựa chọn dự án phải đủ rõ để bảo đảm đúng mục tiêu chính sách nhưng không biến quá trình xét chọn thành một vòng thủ tục hành chính nặng nề. Cần đánh giá đồng thời chất lượng kịch bản, giá trị tư tưởng - nghệ thuật, năng lực của nhà sản xuất, phương án huy động vốn xã hội, chiến lược phát hành, khả năng tiếp cận khán giả và phương án quản trị quyền. Hội đồng lựa chọn phải có chuyên môn đa dạng, có cơ chế phòng ngừa xung đột lợi ích và chịu trách nhiệm giải trình về quyết định của mình.
Thứ hai, quản lý tài chính nên chuyển mạnh từ tiền kiểm chi tiết sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu và trách nhiệm pháp lý. Đơn vị nhận hỗ trợ cần được chủ động tổ chức sản xuất, phát hành, khai thác; đồng thời có nghĩa vụ theo dõi, kê khai, đối soát doanh thu, xác định khoản hoàn trả và nộp ngân sách. Cơ quan quản lý không nhất thiết can thiệp vào từng quyết định kinh doanh, nhưng phải có quyền tiếp cận dữ liệu cần thiết, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và truy thu khi phát hiện kê khai không đầy đủ hoặc không trung thực. Muốn làm được như vậy, cơ chế báo cáo doanh thu từ rạp, nền tảng số, truyền hình và các phương thức khai thác khác phải từng bước được chuẩn hóa, kết nối và số hóa.
Thứ ba, cần coi hiệu quả chính sách là thước đo cuối cùng. Một cơ chế tốt không chỉ được đánh giá bằng số tiền đã giải ngân hay số bộ phim đã hoàn thành, mà bằng số vốn xã hội được huy động thêm, số dự án có chất lượng được kích hoạt, mức độ tiếp cận khán giả, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ, khả năng xuất khẩu và tác động quảng bá hình ảnh đất nước. Nghị quyết 80 đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và xác định điện ảnh là 1 trong những lĩnh vực có tiềm năng hình thành thương hiệu quốc gia. Muốn đạt mục tiêu đó, từng công cụ chính sách phải được thiết kế theo logic tạo tăng trưởng, chứ không chỉ theo logic phân bổ kinh phí.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với điện ảnh, điều đó bắt đầu từ một thay đổi tưởng như rất kỹ thuật nhưng thực chất là thay đổi tư duy: Từ "Nhà nước bỏ toàn bộ kinh phí để sản xuất một số phim" sang "Nhà nước sử dụng một phần ngân sách để kích hoạt nguồn lực xã hội, định hướng thị trường và đạt mục tiêu phục vụ công".
Nếu làm được như vậy, ngân sách Nhà nước sẽ không còn là chiếc "bầu sữa" để một số dự án phụ thuộc vào, mà trở thành vốn dẫn dắt để mở rộng không gian sáng tạo và thị trường. Nhà nước không làm thay doanh nghiệp; doanh nghiệp cũng không bị buộc phải lựa chọn giữa giá trị văn hóa và hiệu quả kinh tế. Một cơ chế đúng có thể khiến 2 mục tiêu ấy bổ trợ cho nhau. Và đó chính là tinh thần cần được gửi gắm trong quá trình xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Kiến tạo một thị trường văn hóa lành mạnh, nơi giá trị Việt Nam có cơ hội được đầu tư tốt hơn, kể hay hơn, đi xa hơn và sống lâu hơn trong công chúng.
"Chính sự đồng tồn tại của giá trị công và giá trị thương mại mới phản ánh đúng bản chất của công nghiệp văn hóa" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn