Công nghiệp Văn hóa

Bản quyền - động lực phát triển công nghiệp văn hóa

06/11/2026 07:49 GMT+7 Google News

Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và chuyển đổi số phát triển, quyền tác giả, quyền liên quan không chỉ bảo vệ thành quả sáng tạo mà còn tạo cơ sở thu hút đầu tư, phát triển thị trường văn hóa. Việc bảo hộ bản quyền vì vậy cần gắn với quản trị, thương mại hóa và phân chia lợi ích trong quá trình khai thác giá trị tác phẩm.

Đây là vấn đề đáng chú ý được đặt ra tại Hội nghị tổng kết việc thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, do Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả (Bộ VH,TT&DL) tổ chức vừa qua tại Hà Nội.

Bản quyền là nền tảng của thị trường sáng tạo

Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa đang làm thay đổi cách thức nhìn nhận giá trị của một tác phẩm. Một sản phẩm âm nhạc, điện ảnh, văn học, nghệ thuật biểu diễn hoặc nội dung số không còn giới hạn ở một hình thức khai thác ban đầu, mà có thể tiếp tục được chuyển thể, phân phối, cấp phép sử dụng và phát triển thành những sản phẩm sáng tạo mới.

Trong quá trình đó, quyền tác giả, quyền liên quan giữ vai trò xác định chủ thể sở hữu, phạm vi khai thác và cơ chế phân chia lợi ích. Một thị trường văn hóa chuyên nghiệp không thể chỉ dựa vào số lượng sản phẩm được sáng tạo, mà còn cần những điều kiện pháp lý bảo đảm để giá trị sáng tạo được lưu thông, giao dịch và tiếp tục tạo ra nguồn thu hợp pháp.

Từ thực tiễn phát triển công nghiệp văn hóa tại Đà Nẵng, bà Nguyễn Thị Hội An (Phó Giám đốc Sở VH,TT&DL TP Đà Nẵng) nhấn mạnh: "Quyền tác giả, quyền liên quan không chỉ là công cụ bảo vệ thành quả lao động sáng tạo khi xảy ra hành vi xâm phạm, mà còn phải được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của hạ tầng phát triển công nghiệp văn hóa".

Bản quyền - động lực phát triển công nghiệp văn hóa - Ảnh 1.

Vở diễn “Mơ show” diễn ra tại TP.HCM, kết hợp nghệ thuật xiếc, múa rối và công nghệ trình diễn hiện đại, góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa. Ảnh: Hữu Duyên

Cách tiếp cận này đặt vấn đề bản quyền trong toàn bộ chuỗi giá trị sáng tạo. Khi quyền của tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất và các chủ thể liên quan được xác định rõ ràng, doanh nghiệp có thêm cơ sở đầu tư, tổ chức sản xuất và phát triển sản phẩm. Ngược lại, nếu quyền sở hữu và phạm vi sử dụng không được làm rõ, những vướng mắc về khai thác và phân chia lợi ích có thể trở thành rào cản đối với việc thương mại hóa sản phẩm.

Đặc biệt, trong các ngành điện ảnh, xuất bản, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, thiết kế sáng tạo và trò chơi điện tử, một sản phẩm thường có sự tham gia của nhiều chủ thể, gắn với những thành phần quyền tác giả, quyền liên quan khác nhau. Việc xác định quyền đối với kịch bản, âm nhạc, hình ảnh, bản ghi, cuộc biểu diễn hoặc các sản phẩm phái sinh vì vậy cần được quan tâm ngay trong quá trình tổ chức sáng tạo, sản xuất.

Thực tiễn thi hành pháp luật thời gian qua cho thấy hoạt động quản lý và khai thác bản quyền đã đạt một số kết quả đáng chú ý. Theo số liệu tổng kết, giai đoạn 2021 đến hết 6 tháng đầu năm 2026, Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả đã thụ lý và cấp 61.003 giấy chứng nhận đăng ký, trong đó có 60.622 giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả và 381 giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.

Cùng giai đoạn, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam ghi nhận doanh thu tiền bản quyền trên 2.000 tỷ đồng, riêng năm 2025 đạt trên 424 tỷ đồng. Những kết quả này phản ánh sự phát triển của hoạt động đăng ký, quản lý tập thể và khai thác quyền tài sản trong lĩnh vực sáng tạo, dù chưa thể đại diện cho toàn bộ quy mô thị trường bản quyền.

Ở khối doanh nghiệp, Công ty cổ phần VieON cho biết đơn vị đã ký kết 2.863 hợp đồng chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng tác phẩm trong giai đoạn 2021 đến hết tháng 6/2026. Hoạt động cấp phép, chuyển quyền sử dụng và thanh toán tiền bản quyền cho thấy quyền sở hữu trí tuệ đang tham gia trực tiếp vào quá trình tổ chức kinh doanh, phân phối nội dung và phát triển các dịch vụ văn hóa trên nền tảng số.

Tuy nhiên, những kết quả về đăng ký và khai thác bản quyền mới phản ánh một phần quá trình hình thành, phát triển thị trường. Vấn đề quan trọng hơn là khả năng xác định giá trị kinh tế của quyền tác giả, quyền liên quan, xây dựng những phương thức giao dịch minh bạch và bảo đảm người sáng tạo được hưởng lợi hợp lý khi tác phẩm tiếp tục được khai thác.

Thực tế cho thấy, mặc dù pháp luật đã tạo cơ sở để quyền tác giả, quyền liên quan được chuyển giao và khai thác như một loại tài sản, khả năng thương mại hóa loại tài sản này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Thị trường định giá quyền chưa phát triển, còn thiếu dữ liệu giao dịch, cơ sở tham chiếu mức tiền bản quyền và căn cứ xác định giá trị kinh tế. Những hạn chế này khiến ngân hàng, nhà đầu tư và các tổ chức tài chính thận trọng khi xem xét tài sản bản quyền trong hoạt động đầu tư, huy động nguồn lực.

Việc xác định mức độ đóng góp của con người đối với sản phẩm có sự hỗ trợ của AI vẫn còn những khó khăn nhất định. Các tiêu chí được quy định chủ yếu mang tính định tính, chưa làm rõ thế nào là mức đóng góp "đáng kể", đặc biệt trong trường hợp người sử dụng chỉ thiết lập câu lệnh phức tạp hoặc thực hiện một phần chỉnh sửa nhưng có vai trò quyết định đối với bố cục và giá trị thẩm mỹ của sản phẩm.

Để bản quyền thực sự trở thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa, năng lực sáng tạo sản phẩm cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với năng lực quản trị tài sản trí tuệ. Việc xác định rõ chủ thể, phạm vi quyền tác giả, quyền liên quan, tạo điều kiện giao dịch và khai thác hiệu quả không chỉ bảo đảm lợi ích của các chủ thể sáng tạo mà còn góp phần hình thành nguồn lực tái đầu tư, thúc đẩy những hoạt động sáng tạo tiếp theo.

Thách thức bảo vệ bản quyền trong môi trường số

Chuyển đổi số đang mở rộng không gian sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa. Các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội, dịch vụ nội dung theo yêu cầu và công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) tạo điều kiện để tác phẩm tiếp cận công chúng nhanh hơn, đồng thời hình thành những phương thức khai thác và mô hình kinh doanh mới.

Tuy nhiên, môi trường số cũng làm gia tăng những thách thức đối với công tác bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Nội dung có thể bị sao chép, chỉnh sửa, phát tán hoặc khai thác trái phép trên nhiều nền tảng, trong khi việc xác định chủ thể vi phạm, thu thập chứng cứ và xử lý hành vi xâm phạm xuyên biên giới còn gặp nhiều khó khăn.

Theo số liệu thống kê, giai đoạn 2021 - 2026, Công ty cổ phần VieON đã thực hiện 104.150 yêu cầu gỡ bỏ, ngăn chặn website hoặc đường dẫn chứa nội dung xâm phạm bản quyền đối với 2.805 nội dung được bảo vệ bản quyền mà công ty là chủ sở hữu. Số lượng yêu cầu này cho thấy áp lực bảo vệ nội dung đối với doanh nghiệp đang khai thác sản phẩm văn hóa trên nền tảng trực tuyến.

Tại TP.HCM, theo số liệu của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố, từ đầu năm 2026 đến nay, lực lượng kiểm tra đã phát hiện, xử lý 33 vụ vi phạm với tổng số tiền xử phạt hành chính 1,507 tỷ đồng (chiếm hơn 30% tổng số tiền thu phạt).

Bản quyền - động lực phát triển công nghiệp văn hóa - Ảnh 3.

Chương trình “In bóng Long Thành” kết hợp nghệ thuật múa rối, âm nhạc dân gian và hội họa, tái hiện những nét văn hóa Thăng Long - Hà Nội (Ảnh có tính chất minh họa). Ảnh: Khánh Hòa

Trong đó, phần lớn các vụ việc liên quan đến việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình trong hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng chỉ ra tình trạng xâm phạm ngày càng đa dạng trên môi trường số, trong khi nguồn nhân lực và công cụ kỹ thuật phục vụ xác định chủ thể vi phạm, thu thập chứng cứ điện tử và xử lý hành vi xâm phạm xuyên biên giới còn hạn chế.

Những vấn đề này đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức bảo vệ bản quyền. Nếu trong môi trường truyền thống, việc phát hiện và xử lý vi phạm thường gắn với những bản sao hoặc hoạt động sử dụng cụ thể, thì trong môi trường số, hiệu quả thực thi quyền phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lực nhận diện nội dung, theo dõi việc sử dụng và phối hợp xử lý giữa cơ quan quản lý, chủ thể quyền và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian.

Từ thực tiễn tại Đà Nẵng, Phó Giám đốc Sở VH,TT&DL TP Đà Nẵng Nguyễn Thị Hội An cho rằng, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa phải được triển khai đồng thời với quản trị quyền số. Theo đó, việc số hóa tài nguyên văn hóa cần gắn với xác lập quyền, nhận diện chủ thể quyền, quy định phạm vi khai thác, cơ chế cấp phép và theo dõi việc sử dụng nội dung.

Đây là yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp đối với việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khi công nghệ trở thành một động lực quan trọng của phát triển, việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực văn hóa không thể chỉ tập trung vào số hóa, lưu trữ và phân phối nội dung, mà cần đồng thời nâng cao khả năng quản trị, bảo vệ và khai thác các quyền gắn với sản phẩm sáng tạo.

Đặc biệt, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đang đặt ra những vấn đề pháp lý mới liên quan đến việc xác định tác giả, chủ sở hữu quyền và sử dụng tác phẩm có bản quyền làm dữ liệu phục vụ huấn luyện AI. Các quy định mới đã bước đầu đề cập điều kiện bảo hộ đối với sản phẩm có sử dụng AI, trong đó nhấn mạnh vai trò đóng góp sáng tạo của con người. Tuy nhiên, việc xác định mức độ đóng góp và áp dụng các tiêu chí bảo hộ trên thực tế vẫn cần tiếp tục được hướng dẫn, làm rõ.

Theo bà Phạm Thiên Hạnh Trang (Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp), việc xác định mức độ đóng góp của con người đối với sản phẩm có sự hỗ trợ của AI vẫn còn những khó khăn nhất định. Các tiêu chí được quy định chủ yếu mang tính định tính, chưa làm rõ thế nào là mức đóng góp "đáng kể", đặc biệt trong trường hợp người sử dụng chỉ thiết lập câu lệnh phức tạp hoặc thực hiện một phần chỉnh sửa nhưng có vai trò quyết định đối với bố cục và giá trị thẩm mỹ của sản phẩm.

Vấn đề đặt ra không dừng lại ở việc xác định chủ thể được bảo hộ. Khi tác phẩm có thể được sử dụng làm dữ liệu, tái cấu trúc hoặc phát triển thành sản phẩm mới bằng công nghệ, cơ chế bảo hộ cần làm rõ ranh giới giữa khai thác hợp pháp và xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, đồng thời bảo đảm điều kiện cho những hoạt động sáng tạo tiếp nối.

Từ góc độ pháp lý, bà Phạm Thiên Hạnh Trang nhấn mạnh: "Độc quyền quyền tác giả không phải là quyền tuyệt đối mà luôn phải được đặt trong tương quan với lợi ích hợp pháp của những chủ thể khác và lợi ích chung của xã hội".

Ở đây, yêu cầu bảo vệ bản quyền cần được đặt trong mối quan hệ với quyền tiếp cận thông tin, tri thức, giáo dục và thụ hưởng văn hóa của cộng đồng. Một khuôn khổ pháp luật hiệu quả phải vừa ngăn chặn việc sử dụng trái phép thành quả sáng tạo, vừa xác lập những giới hạn và ngoại lệ phù hợp để bảo đảm hoạt động khai thác, nghiên cứu và sáng tạo hợp pháp không bị cản trở.

Hướng tới xây dựng Luật Bản quyền tác giả

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định yêu cầu tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hóa theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hóa.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật, Bộ VH,TT&DL đề xuất nghiên cứu xây dựng Dự án Luật Bản quyền tác giả theo hướng hình thành một khuôn khổ pháp lý chuyên ngành, thống nhất, đồng bộ, có tính ổn định và khả năng thích ứng với sự phát triển của công nghệ, thị trường nội dung và các phương thức khai thác quyền mới, đồng thời bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Công Bắc

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm