Văn hoá

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ

29/01/2026 12:36 GMT+7 Google News

Mường Mán sinh ngày 20/5/1947 (Đinh Hợi) tại An Truyền, quen gọi là làng Chuồn, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế, mất lúc 17h45 ngày 28/1/2026 (nhằm ngày 10 tháng Chạp năm Ất Tỵ) tại TP.HCM. Ông làm thơ, viết văn, viết kịch bản phim, vẽ tranh… nhưng có lẽ do có nhiều tác phẩm văn xuôi bán chạy, nên được biết với tư cách nhà văn nhiều hơn. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Điện ảnh Việt Nam.

Linh cữu ông được quàn tại tư gia số 78/21/14 Nguyễn Văn Khối, phường Thông Tây Hội, TP.HCM. Lễ nhập quan bắt đầu từ 6h00 ngày 29/1, lễ động quan lúc 6h00 ngày 31/1, sau đó đưa đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa TP.HCM.

Một tác giả được yêu thích

Về khía cạnh đời tư, Mường Mán lập gia đình năm 1977, sinh con đầu lòng năm 1980. Sau 1975 ông chọn Cần Thơ sinh sống, vì ở đó có anh trai là kĩ sư nông nghiệp, giảng dạy ở Đại học Cần Thơ. Mường Mán vào làm công nhân, tạp vụ ở trường này, chủ yếu là lao động tay chân. Ông cũng có 2 năm làm ruộng, nhân giống các loại lúa ở nông trại Ô Môn, cách Cần Thơ khoảng 40 km. Sau đó Mường Mán quay về trường tiếp tục làm việc lặt vặt, trước khi chuyển sang làm tại hội văn nghệ Cần Thơ. Năm 1995, nhờ bạn bè giúp đỡ, ông rời Cần Thơ lên Tp HCM, làm việc ở Công ty văn hóa Phương Nam đến khi về hưu vào cuối năm 2007.

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 1.

Nhà văn Mường Mán

Mường Mán có thơ (năm 1964) và truyện (năm 1968) đăng báo từ khá sớm. Tại miền Trung, ông đã có rất nhiều bài thơ được độc giả thuộc nằm lòng, trở thành điểm nhấn của vô vàn cuốn lưu bút ngày xanh, kỷ niệm ngày ra trường. Ông làm thơ không nhiều, nhưng chưa bao giờ bỏ thơ, luôn tư duy như một nhà thơ trong nhiều công việc khác. Đặc biệt mấy tháng cuối đời, dù trí nhớ bắt đầu suy tàn nhanh, nhưng ông vẫn nhẩn nha đọc thơ, như chỉ mình ông nghe. Mấy ngày trước khi nhập viện lần cuối, ông còn đi bộ loanh quanh quán Ruốc nổi tiếng của vợ chồng ông, vẫn cho biết đang tìm tứ làm một hai bài thơ cuối cùng.

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 2.

Chính nhờ tiểu thuyết "Hồng Hạ" in lần đầu 35.000 bản và vài tác phẩm ăn khách khác, đầu thập niên 1990 Mường Mán mua được nhà, năm 1995 đưa được vợ con từ Cần Thơ lên TP HCM sinh sống cho đến bây giờ

Khoảng năm 17 tuổi, Mường Mán viết bài thơ Qua mấy ngõ hoa, dài hơn 70 câu, trong đó có đoạn: "… Tay nhớ ai mà tay bối rối/ Áo thương ai lồng lộng đôi tà/ Đường về nhà qua mấy ngõ hoa/ Chớ có liếc mắt nhìn ong bướm". Trong một bài thơ có tên Rằng từ, Mường Mán lại viết: "Rằng từ khoác bụi trên vai/ Năm chưa đủ rộng tháng dài đã trôi/ Người đi tìm lá ngậm ngùi/ Ta về đốt lửa hong lời gió mưa". Chừng này câu thơ có thể diễn đạt được cả cuộc đời cầm bút của Mường Mán, ông luôn bắt đầu với tinh thần lãng mạn, nhưng luôn kết thúc bằng sự chừng mực, trong sáng, nghiềm ngẫm.

Bút danh Mường Mán và một số tác phẩm nổi tiếng


Sinh thời, Mường Mán cho biết ông chọn tên một ga xép ở Phan Thiết làm bút danh của mình, vì thích sự mộc mạc của nó. Sau 1975, nhà nước bỏ bớt dấu huyền thành ga Mương Mán, sau này là ga Bình Thuận.


Các tác phẩm nổi tiếng: Lá tương tư (truyện dài, 1974), Một chút mưa thơm (1974), Hồng Hạ (tiểu thuyết, 1989), Thương nhớ người dưng (1989), Kiều Dũng (tiểu thuyết, 1989), Ngon hơn trái cấm (tiểu thuyết, 1989), Khóc nữa đi sớm mai (1990), Người đàn ông tội nghiệp của tôi (1990), Mùa Thu tóc rối (1990), Chiều vàng hoa cúc (1992), Trộm trái vườn người (1994), Lỡ nước long đong (1995), Trăng không mùa (1995), Những ràng buộc êm ái (tập truyện ngắn, 1995), Vọng (tập thơ, 1995), Cạn chén tình (tập truyện ngắn, 2003), Sáu giang hồ và những mảnh đời phiêu dạt khác (tập truyện ngắn, 2005), Dịu khúc (thơ, 2008)…


Các kịch bản phim nổi tiếng: Người trong cuộc (1988), Tiếng đờn kìm (1996), Trăng không màu (1996), Gió qua miền tối sáng (viết chung, 1996)…

Mường Mán từng nói: "Thế nhưng mong sao, dù dưới bất cứ dạng thức nào, văn chương vẫn luôn đứng về phía ánh sáng, thiện tâm". Nhiều nhân vật của ông được sống cuộc đời mơ mộng, được bay nhảy với tâm trạng của lứa tuổi mới lớn, vừa mới yêu, nhưng có thủy có chung, hướng thượng trong tình yêu, ít khi "liếc mắt nhìn ong bướm".

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 4.

Bức tranh "Vườn chiêm bao" của Mường Mán

Những câu thơ như "tay nhớ ai mà tay bối rối/ áo thương ai lồng lộng đôi tà/ đường về nhà qua mấy ngõ hoa/ chớ có liếc mắt nhìn ong bướm", "hái bông cơm nguội bên thềm cũ/ nhớ thuở quế trầm chưa mất nhau/ loài hoa anh tặng em ngày ấy/ giờ hết nguội rồi, bỗng biết đau", "sóng vẫn vỗ và đò vẫn trôi/ riêng vầng trăng ai đã chia đôi/ nửa mảnh theo em về bến khác/ hay mải tương tư tận cuối trời?", "trăng cuối năm giấu mặt/ cuối đỉnh trời khơi vơi/ môi hôn ai chợt ấm/ dưới hiên mùa lứa đôi", "về ngang qua trường cũ/ không dưng thèm vu vơ/ trái me ai chia nửa/ đến bao giờ thôi chua?"... đã được nhiều thế hệ học sinh - sinh viên thuộc lòng.

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 5.

Văn thơ và hội họa là lẽ sống đời ông

Trước 1975, riêng truyện ngắn Mường Mán đã công bố hơn 100 truyện trên các báo và tạp chí. Sau 1975, ông cầm bút trở lại sau Đổi mới 1986, có nhiều tác phẩm nổi tiếng như Hồng Hạ (tiểu thuyết, 1989), Thương nhớ người dưng (1989), Kiều Dũng (tiểu thuyết, 1989), Ngon hơn trái cấm (tiểu thuyết, 1989), Sớm mai (1990), Người đàn ông tội nghiệp của tôi (1990), Mùa Thu tóc rối (1990), Chiều vàng hoa cúc (1992), Trộm trải vườn người (1994)… Chính nhờ tiểu thuyết Hồng Hạ từng in lần đầu 35.000 bản và vài tác phẩm ăn khách khác, đầu thập niên 1990 Mường Mán mua được nhà, năm 1995 đưa được vợ con từ Cần Thơ lên TP.HCM sinh sống cho đến bây giờ.

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 6.

Một trong những tập truyện ngắn cuối cùng của ông

"Trên những trang văn của anh đầy ắp nhân tình - tình yêu quê hương, trai gái, vợ con, bạn bè... cả những tình yêu thoáng qua, những kẻ bạc tình và bao trùm lên tất cả là tình yêu thương của tác giả đối với những cuộc đời bất hạnh, những số phận trớ trêu.

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 7.

Tranh thường được treo ngay tại quán Ruốc

Khi phim truyền hình thịnh vượng nửa cuối thập niên 1990, Mường Mán nổi tiếng với các phim như Tiếng đờn kìm (1996), Trăng không màu (1996), Gió qua miền tối sáng (viết chung, 1996)…

Phụ vợ bán quán và vẽ tranh

Vợ của Mường Mán là bà Phương Bình, nấu ăn rất ngon, nên sau khi định cư tại TP HCM, gia đình mở quán Ruốc, chuyên các món Huế. Từ sau khi nghỉ hưu năm 2007, ông trở lại với đam mê từ nhỏ là vẽ tranh, "việc này nó hợp với bán quán hơn là viết văn, vì sơn dầu nó cần thời gian để khô, mình cứ túc tắc vẽ thôi", ông chia sẻ.

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 8.

Bức tranh "Hoa miên hương"

Mường Mán quan niệm: "Người ta cầm bút vì lẽ sống! Nhưng trước hết là để thỏa mãn nhu cầu "tự sướng" của mình. Cầm cọ cũng tương tự thế thôi. Về lợi nhuận, tranh thuộc loại hàng bán chậm giá cao, nhuận bút sách báo thuộc loại nhanh, có khi là mì ăn liền và lắm khi rất... bèo bọt. Nghề văn hoặc nghề vẽ đều có thể giúp ta sống được, dù khá khiêm tốn".

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 9.

Bức tranh "Bèo nước long đong"

Trong tập thơ Dịu khúc (2008), có bài Vẽ, Mường Mán viết: "vẽ gương không bóng ai soi/ vẽ má vắng tựa, vẽ vai thiếu kề/ vẽ cửa han rỉ bản lề/ vẽ bướm lạc lối đi về từ khi.../ vẽ nhện đan rối tơ si/ vẽ dế gáy suốt đêm vì khát nhau/ vẽ em men rượu tan lâu/ vẽ câu kinh nguyện thành câu kinh lòng/ vẽ tình con ngựa long nhong/ vẽ áo rách mộng bế bồng kinh luân/ vẽ Xuân trăng tròn đầy khuôn/ vẽ Thu xiêm lộng dưới nguồn sương sa/ vẽ tục lụy, vẽ phù hoa/ thênh thang cõi mộng, bao la cõi đời/ vẽ thiên hạ, chẳng vẽ tôi/ bởi lòng em xóa ta rồi còn đâu".

Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán - Đi một vòng từ thơ đến thơ - Ảnh 10.

Bức tranh "Vầng trăng mê hoặc"

Mường Mán từng kể việc vẽ còn được ông tích trữ từ gần 15 năm trình bày bìa và vẽ minh họa cho sách báo, đặc biệt cho tạp chí Áo trắng. Ông còn giữ được hơn 300 tranh vẽ minh họa và phác thảo, nên giờ túc tắc "chuyển soạn" chúng lên vải bố và sơn dầu. "Nhưng cũng có những tranh mang tựa y chang tên các tiểu thuyết hoặc truyện ngắn của tôi như Bèo nước long đong, Tuần trăng mê hoặc... cũng có bức vẽ từ cảm xúc của một bài thơ, hoặc tứ thơ nào đó mà tôi đã viết".

Ông từ tốn: "Tôi thuộc tuýp người kiệm lời, lại chẳng hoàn hảo gì, nên ngoài con cháu trong nhà, tôi chẳng thích khuyên răn ai điều gì. Tôi không phải là nhà văn của quá nhiều tác phẩm, nhưng tự thấy như vậy cũng là nói quá nhiều rồi, nên... phải chào tạm biệt, phải rút vào hội họa cho được ít nói, được lặng thinh nhiều hơn".

Hiền Hòa

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm