Thể thao và Văn hóa số ra thứ Sáu (11/9) vừa qua đã có bài viết "Dữ liệu dùng chung - giá trị cộng hưởng", nhìn lại hành trình chuyển đổi số của hệ thống thư viện, từ tin học hóa nghiệp vụ, số hóa tài liệu đến xây dựng thư viện điện tử, thư viện số. Vấn đề được đặt ra trong quá trình này ở thời điểm hiện tại là: khi dữ liệu vẫn được hình thành trên nhiều hệ thống khác nhau, khả năng liên thông còn hạn chế và những điểm nghẽn về cơ chế, nguồn lực, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực chưa được tháo gỡ đồng bộ, hệ thống sẽ phải đi tiếp như thế nào?
Theo ông Nguyễn Xuân Dũng, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam: yêu cầu của giai đoạn mới không chỉ là tiếp tục số hóa tài liệu, mà phải chuyển tài nguyên số thành dữ liệu, kết nối dữ liệu thành hạ tầng tri thức và tạo ra những dịch vụ, giá trị mới từ dữ liệu. Nhưng để đi đến mục tiêu đó, những điểm nghẽn của quá trình chuyển đổi cũng cần được giải quyết một cách đồng bộ.
Ông Dũng đã có cuộc trò chuyện với báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN).
Số hóa và hạ tầng dữ liệu dùng chung
*Từ góc độ của Thư viện quốc gia, Nghị quyết 57 đặt ra những yêu cầu mới nào đối với hoạt động thư viện, so với quá trình số hóa đã triển khai trước đó, thưa ông?
- Từ góc độ của Thư viện quốc gia Việt Nam, có thể nhận định rằng Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 đặt ra một yêu cầu rất cao so với cách tiếp cận "số hóa tài liệu" đã thực hiện trong nhiều năm trước của Thư viện Quốc gia nói riêng và ngành thư viện Việt Nam nói chung. Điểm quan trọng là Nghị quyết 57 đã đặt thư viện trong tổng thể hạ tầng dữ liệu, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết đã xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là các nội dung trọng tâm, trong đó đặc biệt coi dữ liệu là nguồn lực quan trọng cần được làm giàu và khai thác tối đa.

Ông Nguyễn Xuân Dũng, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam. Ảnh: TVQG cung cấp thực hiện trên hệ quản trị thư viện điện tử. Ảnh: TVQG cung cấp
Như vậy có thể nói rằng ở giai đoạn trước, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin với trọng tâm là số hóa tài liệu để bảo tồn và mở rộng khả năng tiếp cận. Để triển khai Nghị quyết 57, yêu cầu đặt ra là phải chuyển tài nguyên số thành dữ liệu, kết nối dữ liệu thành hạ tầng tri thức, ứng dụng AI và công nghệ mới để biến dữ liệu thành dịch vụ và giá trị mới.
Đối với Thư viện Quốc gia, việc thực hiện triển khai Nghị quyết 57 dẫn đến một thay đổi về vai trò là từ một thư viện thực hiện số hóa và cung cấp tài nguyên số, tiến tới trở thành hạ tầng dữ liệu - tri thức quan trọng của quốc gia trong lĩnh vực thư viện, có chức năng tập hợp, chuẩn hóa, định danh, bảo quản, kết nối, chia sẻ và tạo lập các dịch vụ tri thức từ tài nguyên của Thư viện Quốc gia và mạng lưới thư viện Việt Nam.
Chúng tôi xác định đây là cách hiểu sát nhất với tinh thần "đột phá", "dữ liệu" và "đổi mới sáng tạo" của Nghị quyết 57, đồng thời cũng là bước phát triển tiếp theo của Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện đã được xác lập từ Quyết định 206/QĐ-TTg.
* Ông có thể cho biết những yêu cầu đó đã được cụ thể hóa như thế nào trong định hướng, kế hoạch hoặc nhiệm vụ của Thư viện quốc gia?
- Những yêu cầu đó đang được Thư viện Quốc gia cụ thể hóa theo hướng chuyển từ các nhiệm vụ số hóa riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái thư viện số thống nhất, liên thông và dựa trên dữ liệu.
Trước hết, chúng tôi đang định hướng xây dựng thư viện số quốc gia theo mô hình tập trung, dùng chung, trong đó dữ liệu từ Thư viện Quốc gia và các thư viện có thể được chuẩn hóa, tích hợp, kết nối và chia sẻ trên một nền tảng chung. Song song với đó là việc tiếp tục số hóa có trọng tâm các nguồn tài liệu quý hiếm, tài liệu đặc biệt và tài liệu có giá trị lâu dài, đồng thời chúng tôi cũng đang tăng cường năng lực bảo quản số để bảo đảm tài nguyên được lưu giữ bền vững.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng hạ tầng dữ liệu và các nền tảng dùng chung, như hệ thống siêu dữ liệu, định danh, mục lục liên hợp, nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu qua API, công cụ tìm kiếm tập trung và các dịch vụ khai thác dữ liệu.
Thư viện cũng đang xây dựng kế hoạch với định hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý tài liệu, tìm kiếm, khai thác nội dung và hỗ trợ người dùng, từng bước hình thành các dịch vụ tri thức số thay vì chỉ cung cấp tài liệu số đơn thuần.
Có thể nói, định hướng chung là xây dựng Thư viện Quốc gia từng bước trở thành trung tâm dữ liệu, bảo quản và kết nối tri thức của mạng lưới thư viện Việt Nam, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đặt ra trong Nghị quyết 57.

Màn hình hiển thị kết quả tra cứu về thông tin ấn phẩm. Ảnh: TVQG cung cấp
* Trong giai đoạn hiện nay, Thư viện Quốc gia đang ưu tiên những vấn đề nào trong chuyển đổi số: tiếp tục số hóa tài liệu, xây dựng dữ liệu, phát triển dịch vụ số, kết nối các hệ thống hoặc thay đổi mô hình phục vụ bạn đọc?
- Trong giai đoạn hiện nay, Thư viện Quốc gia xác định chuyển đổi số phải được triển khai đồng bộ trên nhiều phương diện, nhưng trọng tâm đang chuyển dần từ số hóa được bao nhiêu tài liệu sang sẽ tổ chức và khai thác dữ liệu như thế nào cho hiệu quả, bền vững.
Thư viện vẫn tiếp tục đẩy mạnh số hóa trên quy mô lớn, đặc biệt đối với các nguồn tài liệu quý hiếm, tài liệu đặc biệt và những tài liệu có giá trị lâu dài. Tuy nhiên, số hóa chỉ là khâu đầu. Ưu tiên lớn hơn vẫn là chuẩn hóa, làm giàu và liên kết dữ liệu, xây dựng các nền tảng dùng chung để các hệ thống có thể kết nối, trao đổi và tái sử dụng dữ liệu thay vì tồn tại riêng rẽ.
Cùng với đó, thư viện tập trung phát triển dịch vụ số theo hướng lấy người dùng làm trung tâm, từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tìm kiếm thông minh, gợi ý tài nguyên và các hình thức tương tác mới để người dùng có thể tiếp cận thông tin nhanh hơn, sâu hơn và thuận tiện hơn.
Vì vậy, có thể nói rằng, ưu tiên hiện nay của Thư viện Quốc gia sẽ không lựa chọn giữa số hóa, dữ liệu, kết nối hoặc dịch vụ, mà chúng tôi tập trung tổ chức lại toàn bộ chuỗi từ tài nguyên - dữ liệu - nền tảng - dịch vụ - người dùng trong một hệ sinh thái thống nhất. Đây cũng là bước chuyển từ mô hình thư viện số chủ yếu cung cấp tài liệu sang mô hình thư viện số dựa trên dữ liệu và tri thức.
Tháo gỡ điểm nghẽn để dữ liệu tạo ra giá trị
*Theo ông, đâu là bước chuyển quan trọng để hệ thống không chỉ dừng ở việc số hóa tài liệu mà thực sự hình thành một môi trường thư viện số?
- Theo tôi, bước chuyển quan trọng nhất là chuyển từ tư duy xây dựng các bộ sưu tập số riêng lẻ sang xây dựng một môi trường thư viện số thống nhất, trong đó tài nguyên, dữ liệu, công nghệ và dịch vụ được kết nối với nhau.
Trong thực tế, số hóa thì chỉ tạo ra bản sao số của tài liệu. Nhưng muốn hình thành một thư viện số thực sự, các tài liệu đó phải được tổ chức bằng siêu dữ liệu theo tiêu chuẩn, có khả năng tìm kiếm, liên kết, chia sẻ và tái sử dụng, đồng thời dữ liệu được quản lý trong một hạ tầng có khả năng bảo quản lâu dài và kết nối với các hệ thống khác.
Bên cạnh đó, môi trường thư viện số phải được thiết kế từ nhu cầu của người sử dụng, trong đó, người dùng ngoài việc có thể xem, đọc tài liệu số độc lập và có thể tìm kiếm tập trung, khám phá nội dung, tiếp cận tài nguyên từ nhiều nguồn, tương tác với dữ liệu và từng bước sử dụng các dịch vụ thông minh dựa trên trí tuệ nhân tạo.
Vì vậy, có thể nói bước chuyển được coi là cốt lõi là chuyển dịch từ số hóa tài liệu sang tổ chức dữ liệu và dịch vụ trên một nền tảng thống nhất, liên thông và lấy người dùng làm trung tâm. Khi đó, thư viện số mới thực sự trở thành một môi trường tri thức số chứ không chỉ là một kho tài liệu số theo cách hiểu như trước đây.

Cán bộ thư viện làm việc trong khâu biên mục, phân loại, quản lý kho
*Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu và tài nguyên giữa Thư viện Quốc gia với các thư viện trong hệ thống hiện được đặt ra như thế nào? Đâu là những điều kiện hoặc chính sách cần tiếp tục tháo gỡ để việc liên thông này thực chất hơn?
- Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Thư viện Quốc gia và các thư viện trong hệ thống thư viện Việt Nam hiện nay cần được đặt theo hướng hình thành một mạng lưới dữ liệu thư viện dùng chung, trong đó Thư viện Quốc gia đóng vai trò đầu mối về chuẩn hóa, tích hợp và cung cấp các nền tảng, dịch vụ dùng chung. Mục tiêu không dừng lại là trao đổi biểu ghi thư mục mà tiến tới là kết nối cả tài nguyên số, thông tin về vốn tài liệu và các dịch vụ khai thác.
Để liên thông thực chất hơn, theo tôi cần tiếp tục tháo gỡ một số vấn đề cốt lõi. Trước hết là thống nhất tiêu chuẩn dữ liệu, quy tắc mô tả và phương thức kết nối kỹ thuật để dữ liệu từ các hệ thống khác nhau có thể trao đổi được. Tiếp theo là hoàn thiện cơ chế về bản quyền, quyền khai thác và chia sẻ tài nguyên số. Mặt khác xác định rõ trách nhiệm, quyền lợi của các thư viện khi tham gia hệ thống, đồng thời có cơ chế đầu tư và duy trì lâu dài cho hạ tầng dùng chung.
Một vấn đề rất quan trọng nữa là phải chuyển từ cách kết nối theo từng dự án sang một cơ chế liên thông thường xuyên, tự động và có quản trị dữ liệu thống nhất. Khi có chuẩn chung, nền tảng chung và cơ chế phối hợp rõ ràng, việc chia sẻ mới tạo ra giá trị thực, người dùng có thể tìm kiếm và tiếp cận tài nguyên của nhiều thư viện qua một môi trường thống nhất, còn các thư viện giảm được việc làm trùng lặp và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của toàn hệ thống.

Khu vực tra cứu thông tin trên hệ thống điện tử. Ảnh: TVQG cung cấp
*Để thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay về cơ chế, nguồn lực, hạ tầng, dữ liệu hoặc nhân lực? Có vấn đề nào cần được tháo gỡ ở cấp chính sách?
- Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay của Thư viện Quốc gia nói riêng và ngành thư viện nói chung không nằm ở một yếu tố riêng lẻ mà thực sự nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế, nguồn lực, hạ tầng, dữ liệu và nhân lực.
Về cơ chế, nhiều nhiệm vụ chuyển đổi số có tính liên tục và lâu dài, trong khi phương thức đầu tư, thuê dịch vụ, duy trì hệ thống và bố trí kinh phí vẫn còn những điểm chưa thực sự phù hợp với đặc thù công nghệ số. Đặc biệt, cần có cơ chế ổn định cho việc xây dựng, vận hành và cập nhật các nền tảng, cơ sở dữ liệu dùng chung, thay vì chủ yếu triển khai theo từng dự án riêng lẻ.
Về dữ liệu, khó khăn lớn là dữ liệu được hình thành qua nhiều thời kỳ, sử dụng các tiêu chuẩn và hệ thống khác nhau, nên cần nguồn lực đáng kể để chuẩn hóa, làm sạch, liên kết và bảo đảm chất lượng. Bên cạnh đó, vấn đề bản quyền và quyền cung cấp tài nguyên số vẫn là một trong những rào cản đối với việc mở rộng dịch vụ trực tuyến và chia sẻ giữa các thư viện…
Về hạ tầng và nhân lực, chuyển đổi số hiện nay đòi hỏi năng lực cao hơn về quản trị dữ liệu, bảo quản số, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo và vận hành các nền tảng lớn, trong khi nguồn nhân lực chuyên sâu ở những lĩnh vực này ở các thư viện còn rất hạn chế.
Ở cấp chính sách, theo tôi cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu thư viện, chính sách bản quyền trong môi trường số, cơ chế đầu tư, vận hành lâu dài cho hạ tầng số dùng chung. Đồng thời có chính sách phát triển nhân lực số chuyên sâu cho ngành thư viện. Khi những điểm nghẽn này được tháo gỡ đồng bộ, chuyển đổi số mới có thể đi từ các dự án riêng lẻ sang một hệ thống phát triển bền vững.
*Nếu nhìn trong vài năm tới, ông kỳ vọng chuyển đổi số sẽ thay đổi vai trò của Thư viện Quốc gia và hệ thống thư viện công cộng như thế nào trong việc cung cấp và phổ biến tri thức cho người dân?
- Trong giai đoạn tới, tôi kỳ vọng chuyển đổi số sẽ làm thay đổi khá căn bản vai trò của Thư viện Quốc gia cũng như hệ thống thư viện công cộng và các hệ thống thư viện toàn quốc. Thư viện sẽ không còn được coi là nơi lưu giữ và cung cấp tài liệu mà từng bước trở thành hạ tầng cung cấp, kết nối và phổ biến tri thức số cho người dân, công chúng.
Đối với Thư viện Quốc gia, vai trò mới sẽ được mở rộng từ phát triển, quản lý nguồn tài nguyên của mình sang tập hợp, chuẩn hóa, bảo quản, kết nối và tổ chức khai thác nguồn tài nguyên, dữ liệu tri thức của mạng lưới thư viện, qua đó tạo điều kiện để người dân có thể tiếp cận thuận lợi hơn với các nguồn thông tin có giá trị.
Đối với hệ thống thư viện công cộng, chuyển đổi số sẽ giúp mở rộng phạm vi phục vụ vượt ra ngoài không gian và thời gian của một thư viện cụ thể. Người dân ở các địa phương, kể cả những nơi còn khó khăn về điều kiện tiếp cận thông tin, có thể sử dụng tài nguyên và dịch vụ từ nhiều thư viện thông qua môi trường số.
Đồng thời, với sự hỗ trợ của dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, dịch vụ thư viện sẽ ngày càng chủ động, thông minh và cá nhân hóa hơn, hỗ trợ người dân không chỉ dừng lại ở việc tìm được tài liệu mà còn có thể khám phá, tổng hợp và khai thác tri thức phục vụ học tập, nghiên cứu, lao động và học tập suốt đời.
Tôi kỳ vọng trong tương lai, mạng lưới thư viện sẽ phát triển theo hướng một hệ sinh thái tri thức số liên thông từ Trung ương đến địa phương, trong đó Thư viện Quốc gia giữ vai trò đầu mối và các thư viện công cộng trở thành những điểm tiếp cận tri thức gần gũi với người dân. Khi đó, chuyển đổi số đã mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức công bằng cho mọi người dân.
* Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
"Ưu tiên hiện nay của Thư viện quốc gia sẽ không lựa chọn giữa số hóa, dữ liệu, kết nối hoặc dịch vụ, mà chúng tôi tập trung tổ chức lại toàn bộ chuỗi từ tài nguyên - dữ liệu - nền tảng - dịch vụ - người dùng trong một hệ sinh thái thống nhất" - ông Nguyễn Xuân Dũng, Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam.