Thể thao

Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW: 4 thách thức lớn cho Thể thao Việt Nam

07/10/2026 19:06 GMT+7 Google News

Chuyển đổi số mở ra những cơ hội thay đổi lớn Thể thao Việt Nam trong công tác quản lý, đào tạo, thi đấu và phục vụ người hâm mộ. Tuy nhiên, phía sau nền tảng mới là điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, nhân lực và khả năng khai thác công nghệ.

 1. Chính sách chưa theo kịp tốc độ chuyển đổi

Thể thao Việt Nam không thiếu định hướng lớn trong công tác chuyển đổi số. Sau Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", tới tháng 10/2025, Bộ VH-TT&DL đã ban hành Quyết định 3515/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực TDTT, đặt mục tiêu xây dựng hạ tầng, nền tảng, cơ sở dữ liệu và phát triển nhân lực số. Đề án yêu cầu tích hợp AI, IoT, Big Data, điện toán đám mây và 5G/6G. Cục TDTT yêu cầu dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia.

Tuy nhiên, năm 2026, Bộ VH-TT&DL vẫn thừa nhận dữ liệu thể thao còn phân tán, thiếu đồng bộ, một số nhiệm vụ chậm, chồng chéo và thiếu nhân lực chất lượng cao. Thách thức là thể thao số không vận hành trong một "ốc đảo" pháp lý, từ dữ liệu VĐV, hồ sơ sức khỏe, thành tích đến thông tin người hâm mộ liên quan tới quy định về dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân và an toàn mạng.

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 có hiệu lực từ 1/1/2026, đặt yêu cầu cao hơn với việc thu thập, lưu trữ và khai thác dữ liệu. Vì thế, bài toán không chỉ là ban hành chính sách, mà phải tạo một hành lang rõ trách nhiệm và cơ chế phối hợp chung. Nếu quy định đi sau công nghệ, nhiều các mô hình mới khó phát triển đúng.

2. Nguồn lực tài chính chưa tạo thành hệ sinh thái bền vững

Chuyển đổi số không chỉ cần tiền mua phần mềm, máy chủ hay thiết bị. Chi phí còn gồm số hóa, bảo trì, an ninh mạng, đào tạo và nâng cấp hệ thống. Trong khi đó, nguồn lực còn dành cho cơ sở vật chất, đào tạo VĐV và thi đấu quốc tế, cũng như nhiều khoản chi cho chuyên môn khác. Nhưng nếu thiếu đầu tư dài hạn, dự án số dễ dừng và không chỉ trộng chờ vào ngân sách.

Esports là ví dụ cho thấy tiềm năng nhưng cũng phản ánh khoảng cách về quy mô. Theo Sách trắng Thể thao Điện tử Việt Nam 2022-2023, doanh thu toàn ngành năm 2023 đạt 5,78 triệu USD, tăng 11,15% so với năm trước và được dự báo đạt 8,73 triệu USD vào năm 2027. Việt Nam đã tổ chức Esports tại 2 kỳ SEA Games, song doanh thu còn khiêm tốn.

Vấn đề lớn hơn là đa dạng hóa nguồn thu. Bản quyền, quảng cáo và tài trợ đã hình thành, nhưng nội dung trả phí, hội viên số, thương mại điện tử, dữ liệu thể thao vẫn còn dư địa lớn. Vì vậy, chuyển đổi số phải được xem là khoản đầu tư tạo giá trị lâu dài. Nhà nước tạo hạ tầng, tiêu chuẩn; doanh nghiệp tham gia bằng vốn, công nghệ và quản trị. Khi 2 nguồn lực chưa kết nối thành hệ sinh thái, thể thao số khó tạo dòng tiền ổn định và có khả năng tự tái đầu tư.

Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW: 4 thách thức lớn cho Thể thao Việt Nam - Ảnh 1.

Chuyển đổi số trong thể thao đối mặt với nhiều thách thức khi đây là lĩnh vực có tính chuyên ngành sâu. Ảnh: tạo bởi AI

3. Thiếu nhân lực vừa hiểu thể thao vừa làm chủ công nghệ

Máy móc hiện đại không thể tự biến thành thành tích. Điểm nghẽn nằm ở người đọc dữ liệu và biến phân tích thành quyết định chuyên môn. Cục TDTT từng đánh giá hàm lượng công nghệ trong huấn luyện thể thao Việt Nam còn khá thấp; điều này góp phần tạo độ vênh giữa thành tích tập luyện và thi đấu, hạn chế khả năng dự báo thành tích ở ASIAD, Olympic.

Đề án chuyển đổi số xác định "nhân lực số" là 1 trong 7 mục tiêu trọng tâm. Chương trình bồi dưỡng năng lực chuyển đổi số năm 2025 cũng nhấn mạnh nhu cầu về đội ngũ công nghệ thông tin đủ mạnh để phát triển công nghệ thể thao. Thể thao hiện đại cần HLV biết dữ liệu, chuyên gia phân tích hiệu suất, kỹ sư thiết bị đeo và chuyên gia AI.

Đây là nguồn nhân lực liên ngành khó đào tạo. HLV giỏi chưa chắc xử lý Big Data; kỹ sư dữ liệu có thể không hiểu tải vận động, chiến thuật hay sinh lý VĐV. Khoảng trống này khiến dữ liệu thu thập nhưng chưa khai thác hết giá trị. Thách thức lớn hơn ở địa phương, nơi hạ tầng và nhân lực không đồng đều. Nếu chỉ đào tạo chuyên gia ở trung ương, chuyển đổi số khó lan tỏa xuống cơ sở một cách đồng đều.

4. Công nghệ và dữ liệu chưa được khai thác thành giá trị thực

Một hệ thống số chỉ có ý nghĩa khi dữ liệu tạo ra quyết định, dịch vụ hoặc doanh thu mới. Đây là khoảng trống. Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực TDTT đặt mục tiêu chuyển từ "dữ liệu rời rạc" sang dữ liệu kết nối, phân tích; song năm 2026, Bộ VHTTDL vẫn ghi nhận tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ. Khi dữ liệu VĐV, HLV, thành tích nằm ở nhiều hệ thống, ngành thể thao khó có bức tranh đầy đủ để tuyển chọn tài năng và phân bổ nguồn lực.

Trong huấn luyện, AI, Big Data, IoT, camera và thiết bị đeo có thể theo dõi tải vận động, phát hiện nguy cơ chấn thương, đánh giá kỹ thuật và hỗ trợ giáo án. Đề án xác định đây là hướng ứng dụng quan trọng. Công nghệ chỉ hiệu quả khi dữ liệu được chuẩn hóa và có chuyên gia phân tích.

Trong tổ chức thi đấu và phục vụ người hâm mộ, dư địa còn lớn. Nền tảng số có thể tích hợp lịch, kết quả, vé và nội dung. Hội viên số, nội dung trả phí, sản phẩm số và tài sản số vẫn chưa trở thành nguồn thu phổ biến, ổn định. Chuyển đổi số phải biến dữ liệu thành tài sản, công nghệ thành năng lực cạnh tranh và trải nghiệm số thành giá trị kinh tế bền vững. Chuyển đổi số là bài toán tái cấu trúc, không đơn thuần hiện đại hóa thiết bị. Thể thao Việt Nam đã có định hướng và đề án, nhưng để đi xa cần tháo gỡ đồng thời các điểm nghẽn về thể chế, đầu tư, nhân lực và dữ liệu.

Một trong những giá trị lớn nhất của chuyển đổi số là giúp thể thao Việt Nam thay đổi cách nhìn về quá trình phát triển VĐV. Trước đây, thành tích thường được đánh giá thông qua kết quả thi đấu và quan sát trực tiếp của HLV. Với dữ liệu lớn, ngành thể thao có thể theo dõi quá trình vận động của VĐV trong thời gian dài, từ đó nhận diện xu hướng, phát hiện điểm mạnh, điểm yếu và dự báo khả năng phát triển.


Theo Cục TDTT, việc ứng dụng Big Data, AI, IoT và các công nghệ phân tích có thể hỗ trợ tuyển chọn tài năng, xây dựng giáo án, đánh giá hiệu suất và dự báo thành tích. Đây là hướng đi đặc biệt quan trọng với những môn thể thao mà chênh lệch thành tích được quyết định bởi những chi tiết rất nhỏ.


Nếu được xây dựng đồng bộ, dữ liệu còn giúp ngành thể thao hình thành "hồ sơ số" của VĐV từ khi phát hiện năng khiếu đến khi thi đấu đỉnh cao. Khi đó, quyết định tuyển chọn không chỉ dựa vào cảm nhận mà có thêm cơ sở khoa học. Đây có thể là bước chuyển từ quản lý VĐV theo kinh nghiệm sang phát triển VĐV dựa trên dữ liệu.


***


Chuyển đổi số phải tạo ra một không gian tương tác hoàn toàn mới với người hâm mộ. Thay vì chỉ đến sân hoặc xem truyền hình, khán giả có thể tiếp cận lịch thi đấu, kết quả, số liệu chuyên môn, video, nội dung hậu trường và các dịch vụ dành riêng cho cộng đồng người hâm mộ trên nền tảng số.


Đây là cơ hội để các CLB, liên đoàn và giải đấu xây dựng cộng đồng người hâm mộ thường xuyên thay vì chỉ tiếp cận họ trong ngày thi đấu. Dữ liệu về hành vi khán giả, nếu được thu thập và sử dụng đúng quy định, còn giúp đơn vị tổ chức hiểu rõ nhu cầu của từng nhóm người xem để phát triển nội dung và dịch vụ phù hợp. Về lâu dài, hệ sinh thái này có thể tạo thêm nguồn thu từ quảng cáo số, hội viên, bán sản phẩm, nội dung trả phí và thương mại điện tử. Quan trọng hơn, nó giúp thể thao Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào doanh thu tại sân đấu và từng bước hình thành nền kinh tế xoay quanh người hâm mộ. Vì lẽ đó, chuyển đổi số cũng là cách để thể thao mở rộng thị trường.


Trần Giáp

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm