Cuối tháng 12/2024, ngay khi xe ủi đất gạt ra vệt mạn gỗ thuyền nổi cao nhất trong lòng hồ nuôi cá nhà ông Chiến ở Hà Mãn, hình hài hai thân thuyền như sinh đôi đã hiện ra khá rõ. Cho đến hiện nay, tôi vẫn chưa có dịp gặp để hỏi ông Chiến, chủ ao và người thợ lái máy múc ủi đất ngày hôm đó, với hy vọng khai thác được dấu vết gỗ khảo cổ bên trên sàn mạn hai thuyền này (mà tôi tin rằng chắc chắn có).
1. Sau khi khai quật vét đất trong lòng hai thuyền ra, ngày 26/3/2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh và Đoàn khai quật của Viện Khảo cổ học đã tổ chức một "hội thảo đầu bờ", mời các chuyên gia khoa học, quản lý di sản văn hóa và báo chí tham dự, vừa để thảo luận tại hiện trường kết quả khai quật, phương án bảo tồn, vừa thông tin chính thức kết quả trước công luận. Nhiều báo đã đăng kết quả hội thảo này, tôi xin không nhắc lại toàn bộ mà chỉ muốn thảo luận trong buổi "rì rầm" này những giả định về chức năng của hai phao nổi này.

Phác thảo hai phao thuyền Hà Mãn và độ dốc đáy ghếch cao về phía bờ Tây sông Dâu cổ. Khi san gạt tạo mặt bằng, máy ủi đã khiến cả hai đầu thuyền phía Tây đều bị mất 3 - 4 lớp ván mạn. Đầu thuyền phía Đông còn khá nguyên vẹn nên giữ lại được ván chạy ngang liên kết hai phao thuyền và vệt khấc đặt ván ngang ở mạn trên cùng
Trước hết xin tóm tắt về vị trí hai phao thuyền Hà Mãn: tọa độ 21.01.4139 N - 106.02.2313 E (đồng Cửa Nghè, khu phố Công Hà, phường Hà Mãn, Thuận Thành, Bắc Ninh), trên vệt dòng sông Dâu cổ nay đã cạn, đổi dòng. Hai thuyền song song, cách nhau 2,3m, chiều dài gần như nhau, khoảng 16,10m và 16,25m theo hướng Đông - Tây, nằm ngang, vuông góc với trục sông cổ. Khi khai quật, thuyền phía Bắc gọi là thuyền số I và thuyền phía Nam là số II.
Tại hội thảo, một số nhà khoa học đã dựa vào ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư về việc nhà Lý từng cho đóng "lưỡng phúc thuyền" (thuyền hai lòng) để giả định niên đại Đại Việt sớm và chức năng cung đình cho cặp thuyền Hà Mãn. Một số ý kiến khác vận dụng hiểu biết về thuyền hai thân đi biển phổ biến ở châu Đại Dương, cũng như các mô tả của thương nhân, giáo sĩ châu Âu về thuyền lầu hai thân trong lễ hội ở Malaysia, Indonesia, Myanmar, Thái Lan, Campuchia… để đưa ra gợi ý chức năng cho hai thuyền Hà Mãn.

Mặt bằng phác thảo kỹ thuật nhìn từ trên xuống ở đầu phía phao thuyền số II, nơi còn đầy đủ nhất các cấu kiện “ghế tựa” và các tầng ván mạn, thanh giằng: ở chính giữa là “ghế tựa” gắn vào đầu thuyền độc mộc để nâng đầu thuyền lên độ cao 2m so với đáy thuyền độc mộc bên dưới, làm chỗ tựa cho các ván mạn thuyền. Cây xà gỗ mực đỏ ở chính giữa có một đầu ngoàm đục xuyên qua bức giằng ngang thứ nhất, đầu kia đục xuyên giữa lưng “ghế tựa”, mộng chốt ngoài, cùng với 4 đinh chốt gỗ ở phần bàn tạo thế giằng vững chắc cho các đầu thuyền. Các thanh ngang nhỏ hơn giằng ván mạn hai bên chạy xiên song song lưng “ghế tựa”, giúp tạo khối hộp giãn nước vững chắc
Hôm đó, tôi khẳng định: đây là thuyền Đông Sơn, niên đại khoảng trên dưới 2.000 năm và có chức năng như phao thuyền, tức gần với quan điểm so sánh với thuyền hai thân châu Đại Dương hay thuyền hai thân có sàn lầu trong các lễ hội Đông Nam Á cổ.
Về niên đại Đông Sơn, tôi đã dẫn giải nhiều ở các bài trước, có lẽ không cần bàn lại. Còn nhận định hai "thuyền" Hà Mãn chỉ là kết cấu "phao nổi hình thuyền" chứ không phải hai "con thuyền" được ghép lại, thì chỉ cần có ít nhiều kiến thức về thuyền bè. Trong bài trước, tôi đã từng nhấn mạnh 3 đặc điểm chính để nhận biết "thuyền" hay "phao hình thuyền", xin được nhắc lại một lần nữa ở đây.
Thứ nhất, "thuyền" với tư cách phương tiện vận chuyển cần có phân định đầu - đuôi rõ ràng theo hướng vận động, mũi thuyền thường vát đáy, hớt cao hơn đuôi thuyền. Phao thuyền Hà Mãn chỉ là khoang nổi hình thuyền, không cần phân định đầu - đuôi.

Phác thảo mặt cắt dọc liên kết giữa thân thuyền độc mộc bên dưới và “ghế tựa” bằng đinh chốt gỗ, cây giằng có ngoàm chốt
Thứ hai, "thuyền" cần có dụng cụ và kết cấu tạo động lực (mái chèo, cột chèo, cột buồm, bánh lái…) gắn trên thân thuyền. Phao thuyền Hà Mãn không cần có. Nếu có sẽ để lại dấu vết trên sàn mà hai phao này đỡ.
Thứ ba, "thuyền" vận chuyển thường để lại đồ đạc, hàng hóa trong các khoang. Phao thuyền Hà Mãn trống rỗng, chủ yếu để tạo sức nổi.
2. Thuyền độc mộc niên đại Đông Sơn theo thống kê hiện nay (không kể hai phao thuyền Hà Mãn) đã phát hiện được 12 chiếc. Trong đó, 4 chiếc thuộc loại có hàng mộng chốt để ghép nâng mạn, còn lại là thuyền bình thường. Đặc điểm chung là phần đầu và đuôi thuyền đều để lại một đoạn thân gỗ nguyên lõi dài chừng 60 - 80 cm, không đục rỗng. Đuôi thuyền to hơn, có khối nổi cao hơn mạn; đầu thuyền thu nhỏ, vát hớt lên.

Phác thảo mặt cắt ngang thân phao thuyền, minh họa liên kết vách mạn và các vách giằng ngang tạo khoang hở. Mục đích kỹ thuật chính là tạo ra một khoang phao nổi lớn. Các thanh giằng ngang đều có ngấn hãm trong và mộng chốt ngoài thành ván mạn
Bên cạnh đó, chúng tôi gom được trên 300 hình thuyền được mô tả trên đồ đồng Đông Sơn (trống, thạp, rìu, tấm che ngực…). Tuy nhiên, thuyền ghép đôi phao dài rộng như Hà Mãn với 8 tầng ván ghép tạo độ cao mạn sàn tới 2m thì chưa từng thấy.
Đối với phao thuyền Hà Mãn, hiện tại chúng ta mới chỉ có thông tin khảo cổ bên trong lòng hai phao thuyền. Về khoa học khảo cổ tàu thuyền, chúng ta đã bỏ sót những tàn tích cấu kiện bên trên mà trong lúc san gạt, máy ủi đã đổ đi mất. Trong thực tế, chúng ta có thể thu gom lại. Mặt khác, phía bên ngoài hai phao thuyền chưa được khai quật. Việc này rất quan trọng để hoàn chỉnh hiểu biết về kỹ thuật đóng tàu và hy vọng sẽ thu được những cấu kiện liên quan đã gãy rơi xuống. Mong rằng cuộc khai quật mở rộng sẽ khắc phục những khiếm khuyết đó.

Toàn cảnh hố khai quật thuyền Đông Sơn ở Hà Mãn tháng 3/2025
Hiện trạng hai phao thuyền phía Bắc, nhất là phao thuyền số II, có mặt bằng khá nguyên vẹn, được tạo bởi phần hai tầng ghép mạn thuyền số 8, thanh ván mặt cắt hình chữ L liên kết đầu hai phao thuyền và một số thanh giằng ngang trên cùng của chắn khoang, có thể giúp lập ra một mặt sàn cho cấu trúc bên trên. Tại vị trí hai ván mạn trên cùng, cách đầu thuyền số II chừng gần 1m còn nguyên hai khấc lõm tương ứng với kích thước ván giằng nối hai phao thuyền, song song với thanh giằng đầu thuyền.
Tôi cho rằng đây chính là khoảng cách của các ván giằng ngang tiếp theo, ước chừng sẽ có tổng số 15 - 17 ván giằng ngang như vậy. Những ván này có chiều rộng bằng với thanh ván mặt cắt hình L ở đầu thuyền. Trên hệ 15 ván ngang cố định hai phao thuyền này sẽ có những ván dọc tạo một sàn phẳng kín. Cột khung, vách và mái che sẽ được dựng lên trên sàn này, đủ để tạo ra một sân lễ nghi khoảng trên 100m² (6,45m x 16,25m). Các lỗ mộng hiện thấy trên thanh nối ngang gắn kết hai phao thuyền Hà Mãn có thể chính là những lỗ cắm chân cột của mái hay vách che.

Chi tiết một lòng thuyền với nền đáy là thân thuyền độc mộc, hai đầu được ghép “ghế tựa” để nâng độ cao tương ứng với các ván thuyền được ghép nâng cao ở hai bên mạn
Kết cấu sàn nổi trên hai phao thuyền Hà Mãn trong thực tế có thể neo cố định. Trong trường hợp đó, có thể mở rộng khai quật để tìm ra vị trí cầu cảng và đường dẫn đến đó. Hiện trạng hai phao thuyền dài theo chiều Đông - Tây, nằm vuông góc với bờ, hơi ghếch một đầu lên phía bờ cạn. So sánh độ ngập nước ở đáy thuyền độc mộc, có thể độ ghếch khoảng 10 - 15 độ. Điều này giải thích mặt bằng không đồng đều của các tầng ván mạn: phía Đông là phía giữa lòng sông cổ, ván mạn và thanh gắn hai đầu thuyền còn khá nguyên vẹn; phía Tây là phía bờ cạn hơn, đáy thuyền ghếch lên cao hơn phần phía Đông. Khi máy ủi đào hồ thả cá đã san gạt phẳng, phần mạn trên của đầu phao thuyền phía Tây bị phạt đi tới 70 - 80cm. Theo logic, cầu cảng, nơi bước lên sàn thuận tiện nhất, sẽ ở bờ phía Tây của dòng sông Dâu cổ.
Trong trường hợp di động, kết cấu nổi này cần có hệ thống mái chèo hay cột buồm bên trên sàn, hoặc cọc níu dây để các thuyền khác hay người trên bờ kéo đi. Đáng tiếc, hiện trạng khai quật cho đến ngày hôm nay chưa cung cấp cho chúng ta những dữ kiện để phỏng đoán có cơ sở.
Chúng ta đang may mắn sở hữu một kết cấu mộc rất độc đáo và tinh tế của thời dựng nước cách đây hàng ngàn năm. Cấu trúc này không chỉ có giá trị di sản đối với Việt Nam mà còn có ý nghĩa toàn cầu. Di sản này rất cần được tiếp tục khai quật, nghiên cứu mở rộng, đồng thời bảo quản và phục vụ du lịch, để xứng đáng là một di sản văn hóa khảo cổ mang tầm thế giới.