Phát triển thể thao thành ngành kinh tế trọng điểm không chỉ là khát vọng mà đã trở thành đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia, việc nhìn nhận thể thao như một động lực tăng trưởng kinh tế là hướng đi tất yếu.
Tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục thể thao Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: "Thể dục thể thao muốn phát triển mạnh thì trước hết phải có thể chế tốt. Thể chế phải đi trước, mở đường cho đổi mới, cho đầu tư, cho xã hội hóa, cho quản lý hiện đại, cho vận hành minh bạch, cho phát huy đầy đủ nguồn lực của Nhà nước, xã hội và người dân".
Nhìn vào bức tranh kinh tế thể thao hiện nay, có thể thấy một sự thật giản dị nhưng mang tính nền tảng: sức mạnh của nền thể thao được đo bằng số lượng. Số lượng cơ sở vật chất, số lượng người tham gia tập luyện, số lượng VĐV chuyên nghiệp, số lượng CLB chính quy, hội nhóm, Liên đoàn, và quan trọng hơn cả, số lượng các công ty kinh doanh đặc thù trong lĩnh vực thể thao, điều phản ảnh chính xác nhất mức độ tham gia của xã hội vào thể thao nước nhà.
Những con số ấy không chỉ phản ánh quy mô phong trào mà còn là thước đo chính xác nhất về nội lực của nền kinh tế thể thao. Nếu thể thao chỉ dựa vào ngân sách Nhà nước, nó sẽ mãi dừng lại ở mức độ "phúc lợi công cộng". Kinh tế thể thao chỉ thực sự vận hành khi có sự tham gia của dòng vốn tư nhân, nơi các quyết định đầu tư dựa trên hiệu quả và lợi nhuận. Số lượng các Công ty kinh doanh thể thao chính là chỉ số phản ánh sức khỏe của thị trường. Khi chúng ta có hàng ngàn CLB chuyên nghiệp và bán chuyên hoạt động như những doanh nghiệp độc lập, tạo ra doanh thu từ vé, quảng cáo và chuyển nhượng, lúc đó thể thao mới thực sự đóng góp vào GDP quốc gia. Doanh thu mà họ tạo ra chính là giá trị thực của ngành. Không có số lượng đủ lớn, không thể có cái gọi là "hạ tầng" để đi xa và bền vững.
Ví dụ như mảng bản quyền truyền hình và tiếp thị thể thao tại Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Chúng ta có quá những đơn vị chuyên nghiệp có khả năng đóng gói giá trị hình ảnh của VĐV và giải đấu thành món hàng và bán được. Bởi lẽ thể thao là loại hình giải trí có sức hút bậc nhất, dễ dàng tạo ra sự cộng hưởng với các ngành du lịch và công nghệ.

Phát triển thể thao thành ngành kinh tế trọng điểm không chỉ là khát vọng mà đã trở thành đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn. Ảnh: Hoàng Linh
Để tăng số lượng các thành viên tham gia vào hệ sinh thái thể thao, nút thắt lớn nhất chính là thể chế. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo, việc hoàn thiện hệ thống luật pháp và cơ chế chính sách là ưu tiên hàng đầu. Chúng ta cần những quy định pháp lý, những ưu đãi đặc thù đủ thông thoáng để một CLB thể thao có thể dễ dàng thành lập và vận hành như một doanh nghiệp. Chúng ta cần những chính sách ưu đãi thuế, đất đai cho các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thể thao.
Thể thao không chỉ là những cuộc tranh tài trên sân cỏ, nó còn là một chuỗi cung ứng khổng lồ bao gồm sản xuất, dịch vụ và truyền thông. Tín hiệu tích cực không thiếu: Thể thao trở thành động lực của du lịch địa phương thông qua các giải chạy marathon, các giải golf quốc tế; thể thao thúc đẩy công nghệ sản xuất trang thiết bị; và thể thao tạo ra hàng vạn việc làm cho xã hội.
Tuy nhiên, việc hình thành một hệ sinh thái thị trường thể thao chuyên nghiệp đòi hỏi sự thừa nhận pháp lý đối với các mô hình kinh doanh mới, từ thể thao điện tử (e-sports) đến các ứng dụng công nghệ trong tập luyện và quản lý.
Với tầm nhìn được xác định rõ trong bài phát biểu của Tổng Bí thư và những thảo luận cụ thể tại Diễn đàn Kinh tế Thể thao 2026, Việt Nam đang có cơ hội để tái cấu trúc thể chế theo hướng mở đường cho sự bùng nổ về số lượng các tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực thể thao.
Làm được điều đó, không chỉ thể thao thành tích cao có bệ phóng vững chắc, mà một ngành kinh tế mới với quy mô lớn, tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ sẽ được hình thành, đóng góp xứng đáng vào sự thịnh vượng chung của đất nước.