Như đã đề cập trong bài viết trước (Cổ Loa trong "dòng chảy" thành lũy Việt Nam), đặt bên những tòa thành xuất hiện trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử Việt Nam, Cổ Loa nổi bật bởi quy mô của một hệ thống phòng thủ được kiến tạo từ rất sớm, gắn với quá trình hình thành nhà nước Âu Lạc.
Để rồi, trong lộ trình xây dựng hồ sơ đề cử danh hiệu Di sản thế giới, việc mở rộng hệ quy chiếu ra châu Á tiếp tục gợi mở một câu hỏi khác: Tòa thành hơn 2.000 năm tuổi này có giá trị thế nào so với những đô thị, thành lũy cổ của khu vực?
Những ý kiến tại Hội thảo khoa học Nhận diện giá trị nổi bật toàn cầu của Khu di tích Cổ Loa diễn ra vừa qua cho thấy: Qua nhiều thập niên nghiên cứu và khảo cổ, diện mạo Cổ Loa ngày càng được làm rõ với 3 vòng thành Nội, Trung, Ngoại cùng hệ thống hào và thủy hệ liên hoàn. Từ những dữ liệu ấy, việc đặt Cổ Loa bên cạnh các thành cổ châu Á mở ra những so sánh đáng chú ý về quy hoạch, kỹ thuật xây dựng và cách khai thác điều kiện tự nhiên.
Những sáng tạo trên địa hình châu thổ
Theo phân tích, mặt bằng của một đô thị hay thành lũy cổ thường phản ánh khá rõ cách con người tổ chức không gian, xây dựng hệ thống phòng thủ và ứng xử với môi trường tự nhiên. Ở Cổ Loa, điều này thể hiện ngay trong sự khác biệt giữa 3 vòng thành: Thành Nội có mặt bằng gần hình chữ nhật, một đầu hơi vát, chu vi khoảng 1.730m, trong khi thành Trung và thành Ngoại (chu vi lần lượt khoảng 6.300m và 7.780m) không tuân theo một hình học đều đặn mà uốn theo địa thế, bám các bờ đầm, vùng trũng và nối những gò đất tự nhiên. Sự kết hợp giữa khu vực trung tâm tương đối quy củ và 2 vòng thành ngoài trải rộng, biến đổi theo địa hình đã tạo nên hình thế khiến dân gian gọi quần thể này là Loa Thành.

Sơ đồ di tích Cổ Loa với 3 vòng thành và thủy hệ. Ảnh: BQL
Theo TS Nguyễn Hữu Mạnh (Phó Trưởng khoa Lịch sử và Văn hóa, Đại học Quốc gia Hà Nội), cách tổ chức này khiến Cổ Loa không hoàn toàn giống những khuôn mẫu thường thấy ở các thành lũy cổ khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á - vốn có xu hướng quy hoạch theo những hình học rõ ràng, với trục trung tâm, tính đối xứng và sự phân định các khu vực.
Điển hình, tại Trung Quốc, Tử Cấm Thành, Cố cung Thẩm Dương hay Thượng Đô thời Nguyên đều có mặt bằng vuông hoặc chữ nhật. Ở Đông Nam Á, các đô thị cổ của Myanmar như Halin có mặt bằng hình chữ nhật, Beikthano gần vuông, Sri Ksetra gần tròn; trong khi đô thị cổ Si Thep ở Thái Lan kết hợp khu thành trong gần tròn với khu thành ngoài gần chữ nhật, các góc bo tròn. Để so sánh, Cổ Loa có nét gần với xu hướng này ở thành Nội, nhưng ra đến 2 vòng thành bên ngoài, cách tổ chức thay đổi. Thành Trung và thành Ngoại không tiếp tục một khuôn hình học cố định mà chuyển sang bám theo điều kiện tự nhiên.
Đặc điểm này cũng đưa Cổ Loa đến gần một nhóm thành lũy khác của châu Á, nơi địa hình được tận dụng trực tiếp cho mục đích phòng thủ. Chẳng hạn, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc chạy theo những dãy núi; các Gusuku ở Nhật Bản khai thác địa thế cao và vách đá vôi, hay Nam Hán Sơn Thành (Hàn Quốc) dựa vào những sườn núi dốc.
Dù vậy, Cổ Loa tuy có dựa vào địa hình nhưng lại nằm trên một vùng đồng bằng thấp, nền đất yếu, không có núi cao hay vách đá tạo sẵn phòng tuyến. Những dải gò cao, vùng trũng và khu vực ngập nước có thể được tận dụng, song các tuyến lũy phải được đắp để nối những yếu tố tự nhiên này, khiến thành Trung và thành Ngoại có nơi thu hẹp, có đoạn mở rộng theo địa thế. Tại đó, con người vừa tận dụng những gì sẵn có, vừa cải biến cảnh quan để hình thành nhiều lớp bảo vệ trên mặt bằng châu thổ.
"Cần lưu ý rằng việc quy hoạch theo hình học quy chuẩn thường gắn liền với tham vọng khẳng định uy quyền tuyệt đối của các hoàng đế, biến không gian thành biểu tượng của trật tự vũ trụ" - TS Nguyễn Hữu Mạnh khẳng định - "Cổ Loa linh hoạt hơn, ưu tiên công năng phòng thủ và dân sinh thực tế hơn là biểu tượng. Nó không áp đặt hình học cứng nhắc lên toàn bộ cảnh quan, cũng không phân tán rời rạc theo các hẻm núi, mà kết nối các thành tạo tự nhiên lại với nhau thành một khối liên kết".

Hệ thống ao hồ và mặt nước hiện vẫn còn lưu dấu tại Cổ Loa, điển hình là đền Thượng. Ảnh: BQL
Ở một góc độ khác, cách tổ chức không gian của Cổ Loa cũng đặt ra bài toán kỹ thuật khi phải tạo dựng những tuyến lũy dài trên nền đất châu thổ. Với tổng chiều dài 3 vòng thành gần 16km, TS Nguyễn Hữu Mạnh đặc biệt nhấn mạnh kỹ thuật "tìm gò đắp thành": Tận dụng các dải gò tự nhiên làm nền, bồi đắp những khoảng trống để nối thành tuyến lũy liên tục. Tại đó, đất được đào ngay phía ngoài chân thành vừa cung cấp vật liệu, vừa tạo nên những rãnh sâu, về sau trở thành một phần của hệ thống hào.
Đáng nói, các kết quả khảo cổ ở Cổ Loa còn cho thấy cách xử lý khá linh hoạt theo từng vị trí. Tại thành Trung, các lớp đất nện xen với đất đắp; trong thân lũy có nhiều mảnh gốm, ngói vỡ, còn đá và sỏi cuội được dùng gia cố chân thành ở những nơi tiếp giáp mặt nước hoặc chịu tác động của dòng chảy. Theo TS Nguyễn Hữu Mạnh, việc kết hợp các loại vật liệu như vậy giúp xử lý nền, tăng độ ổn định của công trình trong điều kiện đất yếu, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều.
Từ thành lũy đến một trung tâm chính trị - quân sự
Nếu ở kỹ thuật xây dựng, các hào nước của Cổ Loa gắn với quá trình lấy đất đắp lũy, thì trong cấu trúc tổng thể, hệ thống hào nước này giữ một vai trò quan trọng đối với khả năng phòng thủ. Theo các phân tích, cách tổ chức và vận hành thủy hệ này đồng thời bộc lộ vai trò của Cổ Loa như một quân cảng, tạo nên sự khác biệt lớn so với các di sản đô thị và thành lũy cổ khác ở châu Á.
Cụ thể, hệ thống hào tại Cổ Loa rộng trung bình khoảng 10 - 30m, chạy sát chân cả 3 vòng thành nhưng không khép kín thành những dải nước biệt lập. Các vùng trũng, máng xói cổ ngập nước được khơi thông và kết nối với Đầm Cả ở bên trong, sông Hoàng Giang ở vòng ngoài, tạo thành một mạng lưới liên hoàn. Nhờ đó, nước có thể lưu thông, góp phần điều tiết ngập lụt, cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất và hình thành các tuyến giao thông thủy.

Đầm Cả tại Cổ Loa - xưa từng là một phần quan trọng trong hệ thống phòng thủ và giao thông đường thủy tại đây. Ảnh: BQL
Đáng chú ý hơn cả là giá trị quân sự của mạng lưới thủy hệ này, khi sự liên thông giữa sông, đầm và các tuyến hào tạo điều kiện cho lực lượng thủy binh có thể từ sông Hoàng Giang tiến vào Đầm Cả, rồi theo các hào nước để tiếp cận những vị trí phòng thủ hoặc đồn bên trong thành. Như TS Nguyễn Hữu Mạnh nhận định, "mô hình tác chiến thủy bộ liên hoàn này tận dụng tối đa kỹ năng sông nước của cư dân Đông Nam Á cổ đại".
Theo phân tích của ông, các hệ thống thủy hệ đô thị ở châu Á thường cho thấy 3 cách tiếp cận nguồn nước chính: Phục vụ phòng ngự, tạo cảnh quan hoặc biểu tượng tôn giáo, và đáp ứng nhu cầu dân sinh, thương mại. Cổ Loa tích hợp cả 3 yếu tố, trong đó chức năng quân sự giữ vị trí nổi bật. Thay vì sử dụng sông ngòi như phòng tuyến độc lập chặn địch từ xa như ở kinh đô Hanyang (Hàn Quốc), Cổ Loa đã "kéo" dòng sông và đầm lầy vào sát tường thành, chủ động biến địa hình ngập nước thành một bộ phận hữu cơ của cấu trúc quân thành. "Sự chuyên biệt hóa chức năng quân sự gắn chặt với thủy hệ làm nên bản sắc đô thị độc đáo của Cổ Loa ở khu vực Đông Nam Á lục địa" - TS Mạnh nói thêm.
Vai trò quân sự ấy còn được củng cố bởi các phát hiện khảo cổ. Tại Cầu Vực, phía ngoài cửa Nam Cổ Loa, hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh đã được tìm thấy; trong thành Nội, các cuộc khai quật cũng phát hiện khuôn đúc mũi tên bằng đá cùng dấu tích liên quan đến luyện, đúc kim loại. Theo TS Nguyễn Hữu Mạnh, quy mô và tính tập trung của những phát hiện này cho thấy hoạt động sản xuất vũ khí đã đạt mức độ chuyên môn hóa đáng kể tại Cổ Loa.
Tuy nhiên, những dấu tích bên trong các vòng thành cho thấy Cổ Loa không đơn thuần là một pháo đài. Những công cụ nông nghiệp như lưỡi cày đồng, cuốc, thuổng được tìm thấy tại Cổ Loa và khu vực xung quanh, bên cạnh đó là dấu tích của các hoạt động thủ công. Đồng thời, trống đồng Cổ Loa I, nặng khoảng 72kg, cùng số lượng lớn công cụ và vũ khí bằng đồng cũng cho thấy sự tập trung đáng kể về nguồn lực vật chất tại đây. Theo TS Nguyễn Hữu Mạnh, đây là những dữ liệu cần đặt cùng quy mô xây dựng thành lũy để nhìn nhận khả năng huy động nhân lực, tổ chức sản xuất và tập trung quyền lực tại Cổ Loa.
Và về tổng thể, chuyên gia này nhận định Cổ Loa là "vừa là quân thành, vừa là kinh đô trung tâm". Tại đó, 3 vòng thành bao bọc một không gian tập trung, nơi hoạt động quân sự gắn với cư trú và sản xuất, còn hệ thống phòng thủ lại kết hợp chặt chẽ với địa hình, hào nước và mạng lưới sông, đầm của vùng châu thổ. Đặt bên những thành cổ châu Á với những cách quy hoạch và thích ứng địa hình khác nhau, chính sự kết hợp ấy tạo nên nét riêng của Cổ Loa: Một trung tâm quyền lực sớm của nhà nước Âu Lạc, được tổ chức trên quy mô lớn và mang những đặc trưng rõ nét của môi trường sông nước Đông Nam Á.
(Còn tiếp)