Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu tăng trưởng nhanh cần được đặt trong nền tảng bền vững, nhân văn và bản lĩnh quốc gia. Nghị quyết mới của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa không chỉ nhấn mạnh văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, mà còn khẳng định vai trò như một nguồn lực nội sinh, động lực và "hệ điều tiết" cho phát triển.
Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, tạo trục giá trị dẫn dắt toàn bộ tiến trình chuẩn bị cho Đại hội Đảng XIV.
Nghị quyết đúng thời điểm
Có những văn kiện ra đời trong một giai đoạn nhất định, nhưng chỉ cần đọc vài dòng đầu tiên đã có thể cảm nhận được rằng: đó không phải là một văn kiện "theo nhiệm kỳ", mà là một lời hiệu triệu mang tầm chiến lược, rất cần thiết đối với toàn xã hội. Nghị quyết mới của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam – được ban hành trong những ngày đầu năm – thuộc về nhóm văn kiện như thế. Không chỉ bởi nội dung mà Nghị quyết đặt ra, mà quan trọng hơn, bởi thời điểm Nghị quyết xuất hiện: đúng lúc đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với tốc độ chuyển động nhanh hơn, khát vọng mạnh hơn, thách thức lớn hơn, và yêu cầu về bản lĩnh quốc gia cũng sâu sắc hơn bao giờ hết.
Ảnh: TTXVN
Nếu nhìn lại vài năm gần đây, có thể thấy Việt Nam đang đi qua một chu kỳ phát triển hiếm có. Không khí chung của đất nước là tinh thần đổi mới mạnh mẽ, quyết tâm cao trong sắp xếp, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực – hiệu quả quản trị; tinh thần thúc đẩy tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững; khát vọng vươn lên và hội nhập sâu rộng; đồng thời là sự nhạy cảm rất rõ trước các nguy cơ về tụt hậu, bất bình đẳng xã hội, suy thoái đạo đức, lệch chuẩn văn hóa... Những chuyển động ấy khiến phát triển hôm nay không thể chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng hay những con số kinh tế, mà ngày càng cần được soi chiếu bằng một thước đo rộng hơn: chất lượng con người, chất lượng xã hội, chất lượng niềm tin và hệ giá trị.
Đó cũng là lý do vì sao trong thời điểm này, Đảng đã liên tiếp ban hành một hệ thống các nghị quyết chiến lược có tính đột phá – từ Nghị quyết 57 về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế toàn diện; Nghị quyết 66 về hoàn thiện thể chế; Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân; đến các Nghị quyết 71 về giáo dục – đào tạo và Nghị quyết 72 về y tế. Ta có thể hình dung hệ nghị quyết ấy như một "bộ khung" mới của phát triển quốc gia: đột phá thể chế – đột phá công nghệ – đột phá hội nhập – đột phá nguồn lực xã hội – đột phá chất lượng con người. Nhưng để bộ khung ấy vận hành trơn tru, để các đột phá không tự triệt tiêu nhau, để phát triển nhanh không biến thành phát triển nóng, để công nghệ không làm nghèo nàn đời sống tinh thần, để hội nhập không đánh mất bản sắc, để kinh tế tư nhân không bị cuốn vào chủ nghĩa lợi nhuận đơn thuần… thì còn cần một yếu tố có khả năng "giữ nhịp", tạo cân bằng, điều hòa và dẫn hướng. Và yếu tố đó – không gì khác – chính là văn hóa và con người.
Chúng ta đã từng có những giai đoạn phát triển mà câu hỏi thường trực là: làm thế nào để tăng trưởng? làm thế nào để giàu lên? làm thế nào để hiện đại hóa? Còn hôm nay, khi đất nước đã tích lũy được nhiều thành tựu và đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, câu hỏi phải được mở rộng: tăng trưởng bằng cách nào để bền vững? giàu lên bằng cách nào để nhân văn? hiện đại hóa bằng cách nào để không làm nghèo bản sắc và không làm tổn thương phẩm giá con người? Nghĩa là, phát triển không còn là một cuộc đua về tốc độ đơn thuần, mà là một hành trình đòi hỏi sự cân bằng giữa tăng trưởng và tiến bộ, giữa hiện đại và truyền thống, giữa vật chất và tinh thần, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã hội. Trong hành trình ấy, văn hóa không thể đứng bên ngoài như một lĩnh vực phụ trợ, càng không thể bị hiểu giản đơn như hoạt động phong trào, lễ hội, biểu diễn. Văn hóa phải được nhìn đúng với bản chất của nó: một hệ điều hành, một hệ giá trị, một nền tảng tinh thần, và rộng hơn là một phương thức kiến tạo sức mạnh mềm – sức mạnh bền vững của quốc gia.
Điểm đặc biệt của giai đoạn hiện nay là tác động của công nghệ số và mạng xã hội. Công nghệ đem đến những khả năng chưa từng có, tạo ra không gian mới cho sáng tạo, sản xuất và lan tỏa giá trị. Nhưng mặt khác, nó cũng khiến ranh giới giữa đúng – sai, thật – giả, chuẩn mực – lệch chuẩn, tích cực – độc hại… trở nên mong manh hơn. Một xã hội số phát triển nhanh mà thiếu nền tảng văn hóa mạnh sẽ rất dễ rơi vào trạng thái "giàu lên nhưng hoang mang", "hiện đại hóa nhưng rỗng giá trị", "kết nối nhiều nhưng gắn kết ít", "nhiều thông tin nhưng thiếu niềm tin".
Chính vì vậy, khi Bộ Chính trị khẳng định trong Nghị quyết rằng văn hóa và con người vừa là nền tảng, vừa là nguồn lực nội sinh, động lực, đồng thời là "hệ điều tiết" cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, đó không phải là cách nói hình tượng. Đó là một cách nhìn rất hiện đại về vai trò văn hóa: văn hóa không chỉ tạo ra cái đẹp; văn hóa còn tạo ra trật tự nội tâm, kỷ luật xã hội, đạo đức công vụ, tinh thần công dân, năng lực sáng tạo và khả năng tự đề kháng trước cái xấu.
Không thể không nhắc đến một yếu tố đặc biệt quan trọng khác của bối cảnh: đất nước đang chuẩn bị bước vào Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Mỗi kỳ Đại hội là một cột mốc định hướng; nhưng Đại hội XIV càng mang ý nghĩa chiến lược – mở ra tầm nhìn phát triển cho giai đoạn 2026–2030 và xa hơn. Đại hội cần một nền tảng tư tưởng và hệ giá trị đủ mạnh để dẫn đường, cần một điểm tựa tinh thần đủ lớn để kết nối mọi nguồn lực xã hội. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết về phát triển văn hóa giống như một sự "xác quyết" rất rõ ràng: muốn phát triển nhanh, muốn bứt phá, muốn đất nước hùng cường, thì nhất định phải bắt đầu từ con người; và muốn con người mạnh lên, xã hội lành mạnh lên, dân tộc tự tin hơn, thì văn hóa phải được đặt vào đúng vị trí trung tâm.
Ngày 6/12/2012, UNESCO chính thức công nhận "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ" là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hằng năm, việc tổ chức lễ Giỗ Tổ Hùng Vương được đặc biệt chú trọng, nhằm giáo dục truyền thống, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tôn vinh công đức các Vua Hùng đã có công dựng nước và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Ảnh: Quý Trung – TTXVN
Nói cách khác, Nghị quyết về phát triển văn hóa lần này không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề của riêng ngành văn hóa. Đây là Nghị quyết mang sứ mệnh lớn hơn: định hình hệ giá trị và chuẩn mực phát triển, bảo đảm sự đồng bộ giữa các đột phá chiến lược, và tạo nền cho sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng. Trong một đất nước đang chuyển động nhanh như hôm nay, văn hóa chính là "điểm tĩnh" để giữ phương hướng; là "cái gốc" để không lạc nhịp; là "hệ điều tiết" để phát triển nhanh mà vẫn bền, hiện đại mà vẫn sâu, hội nhập mà vẫn giữ được phẩm giá và bản lĩnh Việt Nam.
Và vì thế, có thể khẳng định: Nghị quyết về phát triển văn hóa ra đời đúng thời điểm – khi đất nước đang cần nhất một lời nhắc mạnh mẽ rằng mọi đột phá muốn thành công đều phải đi qua con người; mọi cải cách muốn bền vững đều cần điểm tựa tinh thần; và mọi khát vọng phát triển muốn đi xa đều phải được nâng đỡ bởi nền văn hóa giàu bản sắc, nhân văn, sáng tạo và hiện đại.
Văn hóa ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước
Nếu như trước đây, trong nhiều giai đoạn, văn hóa đôi khi vẫn được nhìn như một lĩnh vực "đứng bên cạnh" phát triển – làm đẹp thêm đời sống tinh thần, tạo không khí lễ hội, cổ vũ phong trào, hoặc giữ gìn truyền thống – thì Nghị quyết lần này của Bộ Chính trị đã đặt một dấu mốc rất rõ ràng: văn hóa và con người không đứng bên lề, mà đứng ở trung tâm của chiến lược phát triển. Không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực; không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh, và đặc biệt – như Nghị quyết khẳng định – là "hệ điều tiết" cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Chỉ một cụm từ "hệ điều tiết" thôi cũng đủ gợi mở chiều sâu tư duy mới của Nghị quyết. Bởi "điều tiết" nghĩa là: văn hóa không chỉ làm nhiệm vụ "bảo tồn", cũng không chỉ "tuyên truyền", mà có khả năng định hướng nhịp phát triển, tạo nên sự cân bằng giữa các mặt đối lập trong đời sống xã hội, nâng cao sức đề kháng trước những biến dạng của thời đại số, và quan trọng hơn, tạo nền bền vững cho một quốc gia muốn đi xa.
Biểu diễn điệu múa truyền thống của đồng bào dân tộc Mông. Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN
Trong một đất nước đang chuyển động mạnh mẽ như Việt Nam hiện nay, văn hóa chính là yếu tố giúp chúng ta trả lời câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng thực ra rất khó: chúng ta phát triển để trở thành ai? Một dân tộc hiện đại không chỉ là một dân tộc giàu lên, mà còn là một dân tộc biết giữ phẩm giá, biết tôn trọng con người, biết sống tử tế, biết sáng tạo và dấn thân, biết đặt lợi ích riêng trong lợi ích chung, biết hài hòa giữa truyền thống và tiến bộ. Những điều đó không thể đến chỉ bằng chính sách kinh tế hay quản trị hành chính. Những điều đó đến từ hệ giá trị, từ chuẩn mực, từ niềm tin – và nói đúng hơn, đến từ văn hóa.
Một quốc gia muốn phát triển nhanh có thể dựa vào vốn đầu tư, vào tài nguyên, vào công nghệ. Nhưng một quốc gia muốn phát triển bền vững thì nhất định phải dựa vào sức bền xã hội. Sức bền ấy không đo bằng số lượng nhà máy hay tốc độ đô thị hóa, mà đo bằng khả năng đoàn kết, tinh thần đồng thuận, đạo đức công dân, văn hóa thượng tôn pháp luật, văn hóa trách nhiệm và kỷ luật xã hội. Và tất cả những điều đó đều thuộc về phạm trù văn hóa.
Trong những thời điểm khó khăn nhất, một dân tộc không đứng vững nhờ con số; dân tộc đứng vững nhờ niềm tin. Mà niềm tin, suy cho cùng, không phải tự nhiên có, mà được bồi đắp qua thời gian bởi văn hóa. Những giá trị như yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung, hiếu học, tinh thần cộng đồng, đạo lý "uống nước nhớ nguồn", ý thức "lợi ích quốc gia là tối thượng"… không chỉ là khẩu hiệu. Đó là những sợi dây vô hình giữ cho xã hội không bị rã ra trước biến động; là "phần gốc" để Việt Nam có thể bước vào kỷ nguyên hội nhập mà không đánh mất mình.
Nghị quyết phát triển văn hóa, vì vậy, là lời khẳng định rằng: muốn đất nước phát triển bền vững, phải làm mạnh lên nền tảng tinh thần. Nền tảng ấy không phải điều trừu tượng. Nó thể hiện trong một xã hội kỷ cương hơn, trong hành vi công dân văn minh hơn, trong môi trường học đường nhân văn hơn, trong đạo đức công vụ trong sạch hơn, trong tinh thần doanh nghiệp có trách nhiệm hơn, trong đời sống cộng đồng có tình nghĩa hơn. Văn hóa khi đó chính là "hệ điều hành" giúp cả quốc gia vận hành ổn định, khỏe mạnh, hướng thiện.
Điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết là không dừng lại ở khái niệm văn hóa như "nền tảng tinh thần", mà nhấn mạnh văn hóa còn là nguồn lực nội sinh. Đây là một bước tiến lớn về tư duy phát triển, vì nó đặt văn hóa vào logic của kinh tế hiện đại – nền kinh tế dựa vào sáng tạo, bản sắc, tri thức và năng lực đổi mới.
Trong thế giới ngày nay, rất nhiều quốc gia không giàu lên nhờ tài nguyên thiên nhiên, mà giàu lên nhờ tài nguyên văn hóa. Bản sắc được chuyển hóa thành sản phẩm; ký ức trở thành thương hiệu; di sản trở thành trải nghiệm; nghệ thuật trở thành ngành kinh tế; ẩm thực, thời trang, thiết kế, phim ảnh, âm nhạc… trở thành "động cơ tăng trưởng". Văn hóa không chỉ là lĩnh vực tiêu dùng tinh thần; văn hóa trở thành ngành sản xuất giá trị.
Câu lạc bộ hát dân ca xã Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh tham gia ngày hội hát hàng năm. Ảnh: Việt Hùng - TTXVN
Với Việt Nam, lợi thế ấy càng rõ. Một đất nước có chiều sâu lịch sử, có bản sắc đa dạng, có kho tàng di sản phong phú, có cộng đồng sáng tạo đầy tiềm năng, có dân số trẻ, có khả năng tiếp nhận công nghệ nhanh… nếu được tổ chức và khơi thông bằng thể chế phù hợp thì hoàn toàn có thể biến văn hóa thành sức mạnh kinh tế. Và khi Nghị quyết khẳng định văn hóa là nguồn lực nội sinh, nghĩa là Đảng đã đặt ra một định hướng cực kỳ quan trọng: phải chuyển văn hóa từ "tài nguyên ngủ yên" thành "nguồn lực phát triển", từ tiềm năng thành sản phẩm, từ giá trị tinh thần thành giá trị kinh tế – xã hội – đối ngoại, trong một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hiện đại.
Động lực nội sinh ở đây không chỉ là tài nguyên văn hóa. Mà sâu hơn, là con người Việt Nam: phẩm chất, năng lực, sáng tạo, ý chí, tinh thần dấn thân, trách nhiệm, kỷ luật. Một quốc gia có thể nhập khẩu công nghệ, có thể vay vốn đầu tư, có thể mua thiết bị hiện đại – nhưng không thể nhập khẩu lòng yêu nước, không thể mua được bản lĩnh, không thể vay mượn được nhân cách. Con người mới là cốt lõi của mọi năng lực cạnh tranh. Do đó, Nghị quyết văn hóa thực chất là một Nghị quyết về xây dựng con người, bồi đắp hệ giá trị, tạo ra nền tảng nhân lực chất lượng cao theo nghĩa rộng nhất: vừa có tri thức, vừa có nhân cách, vừa có năng lực sáng tạo và bản lĩnh công dân.
Trong thời đại số, tốc độ luôn đi kèm với nguy cơ. Phát triển nhanh có thể kéo theo phân hóa giàu nghèo. Đô thị hóa nhanh có thể kéo theo đứt gãy cộng đồng. Công nghệ phát triển nhanh có thể kéo theo thao túng thông tin, lừa đảo, bạo lực ngôn từ, xuống cấp chuẩn mực. Thị trường vận hành mạnh có thể kéo theo sự thực dụng, đề cao lợi ích ngắn hạn, xem nhẹ cái đẹp, cái thiện. Hội nhập sâu rộng có thể kéo theo nguy cơ hòa tan bản sắc, đứt gãy ký ức văn hóa.
Chính vì vậy, cụm từ "hệ điều tiết" mà Nghị quyết sử dụng không chỉ là cách diễn đạt, mà là một quan điểm phát triển mới. Văn hóa điều tiết tốc độ bằng chiều sâu; điều tiết lợi ích bằng đạo lý; điều tiết tự do bằng trách nhiệm; điều tiết cạnh tranh bằng nhân văn; điều tiết công nghệ bằng đạo đức; điều tiết hội nhập bằng bản lĩnh. Có thể nói: văn hóa chính là "bộ phanh mềm" giúp quốc gia không lao vào phát triển nóng; đồng thời cũng là "động cơ mềm" giúp quốc gia phát triển bền và phát triển đẹp.
Và điều quan trọng nhất: văn hóa là cái khiến một quốc gia không chỉ giàu, mà còn đáng sống. Một xã hội đáng sống không chỉ là xã hội nhiều công trình, nhiều dự án, nhiều con đường; mà còn là xã hội ít bạo lực hơn, ít vô cảm hơn, nhiều tin cậy hơn, nhiều sẻ chia hơn, nhiều lương thiện hơn. Muốn như vậy, không thể chỉ có các chương trình kinh tế. Phải có văn hóa, phải có sự chuyển hóa từ hệ giá trị đến hành vi sống.
Trong thế giới ngày càng cạnh tranh gay gắt, sức mạnh của một quốc gia không chỉ nằm ở GDP hay tiềm lực quân sự, mà nằm ở khả năng tạo ảnh hưởng, gây thiện cảm, tạo niềm tin, gợi cảm hứng. Văn hóa chính là ngôn ngữ mềm mại nhưng sâu sắc nhất để quốc gia đi vào lòng thế giới.
Văn hóa Việt Nam nếu được tổ chức tốt sẽ là nguồn lực đối ngoại vô cùng mạnh: từ di sản đến du lịch; từ ẩm thực đến thời trang; từ âm nhạc, điện ảnh đến văn học; từ tinh thần hiếu khách đến bản lĩnh hòa hiếu; từ câu chuyện lịch sử đến hình ảnh con người Việt Nam nhân ái, sáng tạo, kiên cường. Nghị quyết phát triển văn hóa, do đó, cũng chính là Nghị quyết về xây dựng thương hiệu quốc gia, gia tăng sức mạnh mềm, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội XIV, ý nghĩa này càng rõ: đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới thì không chỉ cần tăng tốc kinh tế, mà còn cần tăng tốc về vị thế – tăng tốc về năng lực mềm – tăng tốc về bản lĩnh văn hóa. Và Nghị quyết lần này đã tạo nền định hướng rất quan trọng: Việt Nam phát triển nhưng không đánh mất mình; Việt Nam hội nhập nhưng không hòa tan; Việt Nam hiện đại nhưng vẫn giữ hồn cốt; Việt Nam mạnh lên nhưng vẫn nhân văn.
Có thể nói, Nghị quyết phát triển văn hóa lần này không chỉ trả lời câu hỏi "văn hóa quan trọng thế nào", mà trả lời một câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để đất nước bước vào kỷ nguyên mới với đầy đủ sức mạnh – cả cứng lẫn mềm, cả vật chất lẫn tinh thần, cả tăng trưởng lẫn nhân văn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, việc bảo vệ độc lập về văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bản sắc dân tộc sẽ tạo nên cốt cách, tinh hoa, "quốc hồn, quốc túy" cho văn hóa Việt Nam, bảo đảm sự trường tồn của dân tộc. Ảnh: TTXVN
Và khi nhìn từ chiều sâu ấy, ta hiểu rằng: Nghị quyết về phát triển văn hóa không phải là một nghị quyết của riêng ngành văn hóa. Đó là một Nghị quyết về nền tảng phát triển quốc gia. Văn hóa không còn là phần "trang trí" của sự phát triển – mà là phần "gốc rễ"; không còn là "phần mềm phụ trợ" – mà là "hệ điều hành"; không còn là câu chuyện phong trào – mà là chiến lược dài hạn.
Thông điệp hành động trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIV
Một nghị quyết lớn bao giờ cũng mang trong mình hai tầng ý nghĩa: một tầng là tư tưởng chỉ đạo, một tầng là sứ mệnh hành động. Nghị quyết về phát triển văn hóa lần này càng như vậy. Bởi nếu văn hóa thực sự được xác lập là nền tảng, là nguồn lực nội sinh, là động lực và là "hệ điều tiết" cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, thì điều đó đồng nghĩa với một yêu cầu rất cụ thể: văn hóa không thể chỉ được nói đúng – mà phải được làm thật; không thể chỉ dừng ở nhận thức – mà phải chuyển hóa thành cơ chế, thành nguồn lực, thành phương thức tổ chức thực thi và thành sự thay đổi trong đời sống xã hội.
Trong không khí toàn Đảng, toàn dân chuẩn bị hướng về Đại hội XIV, điều quý nhất mà Nghị quyết mang lại chính là một lời nhắc mạnh mẽ và đầy trách nhiệm: muốn đất nước bước vào kỷ nguyên mới một cách vững chãi, thì không thể chỉ trông chờ vào tăng trưởng kinh tế; mà phải xây dựng được một nền tảng tinh thần đủ mạnh, một hệ giá trị đủ bền, một môi trường văn hóa đủ lành mạnh – để con người Việt Nam không chỉ giàu lên, mà còn tử tế hơn, sáng tạo hơn, đoàn kết hơn và bản lĩnh hơn.
Nhưng để biến những mục tiêu lớn ấy thành thực tế, điều cốt lõi là phải đi từ tinh thần Nghị quyết đến ba nhóm hành động chiến lược sau đây.
Quang khu vực hồ Hoàn Kiếm, biểu trưng Đại hội XIV với hình ảnh cờ đỏ, búa liềm được đặt ở vị trí trung tâm, kết hợp cờ Đảng, cờ Tổ quốc và hoa trang trí, tạo nên những điểm nhấn trực quan giàu ý nghĩa chính trị. Ảnh: Minh Quyết – TTXVN
Trước hết, phải hoàn thiện thể chế và thiết kế nguồn lực theo tinh thần "đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển". Nếu Nghị quyết đã khẳng định văn hóa là nguồn lực nội sinh thì điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được thể chế phát triển văn hóa tương xứng với vị trí đó. Không thể chấn hưng văn hóa bằng những công cụ cũ; càng không thể phát triển công nghiệp văn hóa bằng tư duy bao cấp hay quản lý hành chính đơn tuyến. Thể chế ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng: từ hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, mô hình quản trị, đến phương thức huy động và phân bổ nguồn lực.
Điều cần làm là phải rà soát và hoàn thiện các luật liên quan, xây dựng các khung pháp lý mới cho những lĩnh vực đang phát triển rất nhanh như văn hóa số, công nghiệp văn hóa, thị trường sáng tạo, bản quyền, các mô hình hợp tác công tư trong văn hóa… Bởi văn hóa không thể phát triển bền vững nếu thiếu hành lang pháp lý đủ rộng, đủ thông thoáng, đủ minh bạch và đủ khả năng khuyến khích sáng tạo.
Đầu tư cho văn hóa cũng phải thay đổi. Không thể tiếp tục đầu tư theo kiểu dàn trải, cào bằng, thiếu trọng tâm. Cần đầu tư theo tinh thần "vốn mồi" và "đòn bẩy": ngân sách nhà nước phải đóng vai trò dẫn dắt, khơi thông xã hội hóa; tập trung vào các thiết chế nền tảng, các dự án tạo sức lan tỏa, các chương trình nuôi dưỡng nhân tài, các trung tâm sáng tạo, và các không gian văn hóa cộng đồng để văn hóa thực sự chạm vào đời sống thường nhật của nhân dân.
Và điều rất quan trọng: muốn văn hóa trở thành động lực phát triển, thì chính sách phải đủ mạnh để văn hóa tạo ra giá trị – giá trị tinh thần, giá trị xã hội và cả giá trị kinh tế. Khi đó, văn hóa mới không còn bị nhìn như "chi phí", mà được nhìn đúng như bản chất: một khoản đầu tư có khả năng sinh lợi lâu dài cho quốc gia.
Ảnh: Minh Quyết – TTXVN
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ tổ chức thực thi: từ "quản lý" sang "kiến tạo", từ phong trào sang hiệu quả đo lường được. Một trong những khó khăn lớn nhất của văn hóa trong nhiều năm qua là khoảng cách giữa chủ trương đúng và kết quả thực thi chưa tương xứng. Vì vậy, bài toán quan trọng nhất của Nghị quyết không nằm ở việc "đúng hay không", mà nằm ở việc "làm thế nào để đi vào cuộc sống".
Muốn vậy, phải chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển văn hóa. Quản trị phát triển nghĩa là: có mục tiêu rõ, có chỉ tiêu cụ thể, có kế hoạch khả thi, có cơ chế phối hợp liên ngành, có phân cấp – phân quyền hợp lý, có giám sát – đánh giá minh bạch, và có trách nhiệm giải trình. Chấn hưng văn hóa không thể chỉ dựa vào lòng nhiệt tình hay phong trào vận động, mà phải dựa vào năng lực quản trị và hiệu quả thực thi.
Cũng cần nhấn mạnh rằng văn hóa là lĩnh vực có tính liên ngành rất cao. Không thể chỉ giao cho một cơ quan đơn lẻ. Văn hóa phải được tích hợp trong phát triển kinh tế – xã hội; phải gắn với giáo dục, truyền thông, du lịch, công nghệ, ngoại giao. Chính vì vậy, cơ chế phối hợp là chìa khóa: từ Trung ương đến địa phương, từ Nhà nước đến xã hội, từ cơ quan quản lý đến các hội nghề nghiệp, nghệ sĩ, doanh nghiệp và cộng đồng.
Cùng với đó, một yêu cầu mang tính hiện đại là phải xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá phát triển văn hóa. Chúng ta phải đo được chất lượng môi trường văn hóa, mức độ tham gia văn hóa của người dân, sức sáng tạo xã hội, sức mạnh mềm, mức độ hài lòng với thiết chế văn hóa, hiệu quả của đầu tư. Có đo lường thì mới quản trị; có quản trị thì mới phát triển bền vững. Đó cũng là cách để Nghị quyết không chỉ "có tính đúng" mà còn "có tính làm được".
Thứ ba, tạo đột phá về con người và môi trường văn hóa: đặt trọng tâm vào xây dựng con người Việt Nam thời đại mới. Không có con người tốt thì không thể có văn hóa mạnh. Và cũng không có môi trường văn hóa lành mạnh thì con người khó trưởng thành toàn diện. Vì vậy, nhóm hành động sâu nhất của Nghị quyết chính là: xây dựng con người và môi trường văn hóa – tức là xây dựng nền tảng tinh thần của quốc gia.
Trước hết, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa theo nghĩa rộng: cán bộ văn hóa, nghệ sĩ, trí thức, nhà nghiên cứu, đội ngũ làm sáng tạo nội dung số, các doanh nghiệp văn hóa… Đây là lực lượng trực tiếp tạo ra giá trị văn hóa. Muốn văn hóa trở thành động lực thì phải trọng dụng nhân tài, phải có cơ chế nuôi dưỡng sáng tạo, phải có chính sách đãi ngộ tương xứng, phải tạo ra những không gian để người làm văn hóa có thể "sống được bằng nghề", "sống được bằng sáng tạo" và có thể cống hiến lâu dài.
Song song với đó, cần xây dựng môi trường văn hóa từ gốc rễ: gia đình – nhà trường – cộng đồng. Không thể chấn hưng văn hóa nếu gia đình lỏng lẻo; không thể xây dựng con người mới nếu học đường còn bạo lực, còn lệch chuẩn; không thể tạo ra xã hội đáng sống nếu không gian công cộng thiếu văn minh. Văn hóa vì thế phải hiện diện trong từng hành vi ứng xử, trong từng chuẩn mực công dân, trong từng mối quan hệ xã hội.
Đặc biệt trong thời đại số, không gian mạng đã trở thành một phần của đời sống. Vì vậy, nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh phải mở rộng sang không gian số: thúc đẩy văn hóa đọc, văn hóa tranh luận, văn hóa ứng xử trên mạng, nâng cao năng lực số có trách nhiệm, nâng cao khả năng nhận diện thông tin độc hại. Đây không chỉ là công việc của ngành văn hóa, mà là nhiệm vụ của toàn xã hội – bởi đó là "mặt trận giá trị" của thời đại mới.
Nhìn từ tổng thể, có thể nói Nghị quyết về phát triển văn hóa là một quyết tâm lớn của Đảng trong việc đặt văn hóa vào đúng vị trí: mạch nguồn của sức mạnh dân tộc, nguồn lực nội sinh của phát triển, và hệ điều tiết của kỷ nguyên mới. Trước thềm Đại hội XIV, Nghị quyết mang ý nghĩa như một điểm tựa tinh thần để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với sự tự tin và bản lĩnh.
Bởi cuối cùng, một quốc gia mạnh không chỉ là quốc gia giàu. Một quốc gia mạnh là quốc gia có con người mạnh, có niềm tin mạnh, có bản lĩnh mạnh, và có nền văn hóa đủ sâu để đứng vững trước mọi biến động. Chấn hưng văn hóa vì thế không chỉ là nhiệm vụ của một ngành, mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc – để Việt Nam đi nhanh hơn, nhưng cũng đi xa hơn; hội nhập sâu hơn, nhưng vẫn là chính mình; hiện đại hơn, nhưng vẫn giàu nhân văn.
Đó cũng chính là ý nghĩa lớn nhất của Nghị quyết: khơi dậy trong mỗi người Việt Nam niềm tự hào, trách nhiệm và khát vọng kiến tạo một nền văn hóa xứng tầm với vận hội mới của dân tộc.
Nghị quyết số 80 - NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị đã xác định tám nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa Việt Nam.
Khi Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026, văn hóa đã được đặt vào một vị trí chưa từng có trong tư duy phát triển quốc gia: vai trò "hệ điều tiết" của tăng trưởng. Không còn đứng bên lề như một lĩnh vực minh họa hay phần phụ tinh thần, văn hóa được xác lập như nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực chiến lược để Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh nhưng bền vững.
Không chỉ là dấu tích của một hành cung tráng lệ thời Lý, Hoa Lâm Viên đang được nhìn nhận như một không gian di sản mở, nơi lịch sử, văn hóa có thể trở thành nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất