Gần một thế kỷ đã qua, nhưng đọc lại phóng sự của Vũ Trọng Phụng trong ngày 21/6, hẳn nhiều nhà báo vẫn gặp lại những câu hỏi không cũ về nghề: người viết có thể tiếp cận đời sống thế nào, quan sát và suy ngẫm ra sao, để từ những chi tiết rất nhỏ nhận ra những vấn đề lớn hơn của xã hội.
Bởi, bên cạnh vị thế của một nhà văn kiệt xuất, Vũ Trọng Phụng (1912-1939) còn là một người làm báo đặc biệt của thời đại mình. Từ Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô đến Lục xì hay Kỹ nghệ lấy Tây, điều còn lại từ những trang phóng sự của ông không chỉ là tư liệu của một thời, mà còn là bài học về con mắt quan sát, sự dấn thân và bản lĩnh của người cầm bút trước hiện thực.

Chân dung nhà văn Vũ Trọng Phụng
Một nhà văn làm báo
Báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, người có nhiều năm nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng. Ông cho biết:
- Nếu nhìn lại sự nghiệp làm báo của Vũ Trọng Phụng, ta cần đặt ông vào đặc thù báo chí thời ấy. Báo chí khi đó đã có sự phân chia nhất định. Tin tức, nhất là tin thế giới, thường được lấy từ các nguồn tiếng Pháp và chiếm số lượng không nhiều. Còn các đề tài xã hội thì khác: phần lớn là các tác phẩm, gồm cả hư cấu và phi hư cấu. Khi ấy, phóng sự và tiểu thuyết cùng đăng báo, cùng được độc giả đón đọc, tác dụng của phóng sự nhiều khi gần với tác dụng của văn học.
Như thế, báo chí giai đoạn này cũng là cái nền của văn học, còn Vũ Trọng Phụng là trường hợp tiêu biểu cho một thời các nhà văn làm báo. Thật ra, so sánh ông với các cây bút cùng thời cũng khó, bởi mỗi người có một cách làm, một sở trường và điều kiện riêng. Chẳng hạn, Hoàng Đạo thường đi dự các phiên tòa rồi viết, nên có hiểu biết rất sâu về luật. Một số cây bút trong Tự Lực văn đoàn lại làm báo từ một nền tảng trí thức khác, với phông văn hóa rộng, lối tổ chức báo chí hiện đại hơn, và có người còn gắn với hoạt động xã hội, chính trị.
Vũ Trọng Phụng không thuộc kiểu ấy. Ở ông, phần nhà báo nghiêng nhiều về phía một nghệ sĩ viết văn: một người đi vào đời sống, nhìn ra những bất công xã hội, rồi dùng ngòi bút để phơi bày và tố cáo. Việc đi thực tế, quan sát, nghe chuyện, thâm nhập, điều tra chiếm công sức rất lớn trong cách làm của ông. Và danh xưng "vua phóng sự Bắc Kỳ" mà chúng ta hay nhắc đến có thể còn có ý kiến khác nhau về xuất xứ, nhưng theo tôi, nó ghi nhận đúng vị trí riêng của Vũ Trọng Phụng trong phóng sự đương thời.

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân
* Ông có thể nói rõ hơn về khả năng nắm bắt thực tế trong các phóng sự của Vũ Trọng Phụng?
- Điểm mạnh của ông nằm ở việc thâm nhập thực tế, nắm bắt những mảng đời sống phức tạp, rồi biến chúng thành những trang viết có sức ám ảnh. Chẳng hạn, đọc Cơm thầy cơm cô, ta thấy Vũ Trọng Phụng đã "nhập vai" khá rõ. Ngay đầu phóng sự, ông kể về việc ăn mặc như một người làm thuê, nhờ một mụ già làm nghề đưa người dẫn đến một hàng cơm để trọ qua đêm, nơi "bọn cơm thầy cơm cô nằm ngổn ngang", rồi từ đó bắt chuyện với họ.
Sau đó, ông cùng họ ra góc phố Amiral Courbet (phố Lý Thái Tổ bây giờ), để xem cái "chợ mua bán người" ở Hà Nội khi ấy vận hành ra sao. Ông còn làm quen với cô sen Đũi để nghe chuyện, quan sát, lần theo số phận của những con sen, vú em, thằng nhỏ. Tất nhiên, chuyện ấy khi vào tác phẩm có thể đã được ông sắp xếp, khái quát lại, nhưng vẫn là sự thật của đời sống.
Hoặc với Kỹ nghệ lấy Tây, tư liệu cũng cho thấy Vũ Trọng Phụng đã lên tận Thị Cầu (Bắc Ninh) hay vùng Chùa Thông (Sơn Tây), nơi có các đồn binh Pháp. Bên ngoài những trại lính đó thường hình thành các dãy phố có me Tây và gái điếm sinh sống. Từ những nơi ấy, Vũ Trọng Phụng nhìn ra một mảng đời sống đô thị và thuộc địa rất phức tạp...

Thẻ công tác báo chí của Vũ Trọng Phụng (1912 - 1939), cho biết ông đang làm phóng viên tại Hải Phòng tuần báo và có bút tích của cố nhà văn. Ảnh: TL
* Thật ra, với Vũ Trọng Phụng, dấn thân không chỉ là việc "nhập vai", mà còn là khả năng nghe chuyện, chọn đúng không gian, đúng đối tượng để nắm bắt đời sống. Chẳng hạn, nhà văn Ngọc Giao từng kể rằng Vũ Trọng Phụng ăn mặc như người ở, ra ngồi tại máy nước công cộng Hàng Da, nói chuyện với những con sen, thằng nhỏ suốt vài ngày. Theo ông, chi tiết ấy nói gì về cách ông làm phóng sự?
- Điều này cho thấy khả năng quan sát và tái hiện của ông. Chẳng hạn, theo một số người cùng thời, Vũ Trọng Phụng không hề biết đánh bạc. Nhưng ông nghe người khác kể, rồi có thể viết rất tốt - đến mức trong Cạm bẫy người, những mánh khóe lừa lọc trên chiếu bạc, rồi các quan hệ gia đình đổ vỡ, các cuộc đời bị cuốn vào cờ bạc... được kể rất kỹ.
Tất nhiên, có lẽ Vũ Trọng Phụng cũng đã theo người khác tới chiếu bạc. Trong phóng sự này, tôi thấy có nhân vật Ký Vũ mang hình bóng tác giả. Chữ "Vũ" có thể lấy từ tên Vũ Trọng Phụng, như một cách ông tự đưa mình vào tác phẩm. Nhưng Ký Vũ chỉ xuất hiện mờ nhạt, chứ không phải một nhân vật quan sát giữ vai trò trung tâm. Vì vậy, có lẽ phần đi thực tế ấy chủ yếu giúp ông bổ sung cảm xúc và chi tiết cho câu chuyện đã được nghe.
Còn chuyện ông ra ngồi ở máy nước công cộng Hàng Da cũng rất đáng chú ý. Quả thật, Hà Nội từ thời Tây cho đến nhiều năm sau đó luôn có người xếp hàng, tụ tập quanh các máy nước công cộng, nhất là ban đêm. Với con mắt nghề nghiệp, Vũ Trọng Phụng nhận ra đó là một không gian giàu thông tin. Từ một nơi rất bình thường của đời sống, ông biến nó thành một điểm quan sát xã hội, để đưa vào phóng sự câu chuyện của những người cùng khổ, và cả những điều được họ kể về thói xấu trong những gia đình Hà Nội bấy giờ.
"Sức nặng của đời sống"
* Nếu chọn một phóng sự tiêu biểu nhất cho khả năng quan sát đời sống và phát hiện vấn đề xã hội của Vũ Trọng Phụng, ông sẽ chọn tác phẩm nào?
- Trước hết phải nhắc đến Cơm thầy cơm cô. Đây là một phóng sự ngắn, nhưng sinh động và được độc giả đương thời rất thích. Nhưng cá nhân tôi đánh giá cao nhất Kỹ nghệ lấy Tây. Ở phóng sự này, Vũ Trọng Phụng không chỉ kể chuyện của những me Tây, mà còn nhìn ra một thực tế rộng hơn: quan hệ giữa phụ nữ phương Đông và đàn ông phương Tây trong hoàn cảnh thuộc địa. Tại đó, nhu cầu đời sống của những lính Tây đi đồn trú, cộng với sự chênh lệch về kinh tế và dân trí ở bản xứ, đã hình thành một thứ quan hệ mà ông gọi là "kỹ nghệ lấy Tây": sự thương mại hóa quan hệ nam nữ dưới hình thức hôn nhân.
So với một phóng sự gần gũi về đề tài là Lục xì, tôi nghĩ Kỹ nghệ lấy Tây hơn ở chỗ không chỉ mô tả hiện tượng, mà nhìn ra cả cơ chế của xã hội phía sau.
* Có một thực tế, những phóng sự thành công nhất của Vũ Trọng Phụng đều viết về đời sống đô thị và tầng lớp dưới. Ông nghĩ sao về điều này?
- Vũ Trọng Phụng hầu như lớn lên ở Hà Nội, nhưng Hà Nội trong phóng sự của ông trước hết là Hà Nội của tầng lớp dưới: dân nghèo, người buôn bán nhỏ, người làm thuê. Ông không quan sát đời sống ấy như một người xa lạ. Bản thân ông cũng sống trong một Hà Nội của giới bình dân, không dư dả, nên khi viết về họ, ông viết về một môi trường rất gần với mình.
Đặc biệt, một đối tượng quan trọng trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng là dân nhập cư, những người từ nông thôn ra Hà Nội kiếm sống, rồi bị cuốn vào các nghề nghiệp, quan hệ và bi kịch khác nhau. Qua họ, ông nhìn thấy quá trình đô thị hóa thời thuộc địa từ phía những người dễ tổn thương nhất. Và chính nhờ quan sát, lắng nghe và tiếp xúc với những lớp người ấy, phóng sự của Vũ Trọng Phụng có sức sống và ngôn ngữ đời thường rất sinh động. Nhiều cây bút cùng thời cũng hiểu Hà Nội, viết rất duyên, nhưng về độ sống động của ngôn ngữ thì khó được như ông.
* Theo ông, người làm báo, nhất là người viết phóng sự hôm nay, có thể học gì ở Vũ Trọng Phụng?
Trước tiên là sự bám sát đời sống. Ở thời Vũ Trọng Phụng, việc đi vào những câu chuyện phức tạp của xã hội không dễ, nhưng ông vẫn tìm nhiều cách để tiếp cận: nghe kể, gặp gỡ, quan sát, đồng hành cùng nhân vật, và khi cần thì trực tiếp dấn thân. Nhờ vậy, ông không chỉ nhìn thấy hiện tượng bên ngoài, mà còn đi sâu vào bên trong đời sống ấy, nhận ra những vấn đề đang âm thầm hình thành trong xã hội.
Quan trọng hơn, Vũ Trọng Phụng giữ lại được từ những cuộc tiếp xúc trực tiếp ấy các cảm xúc và chi tiết rất đắt. Khi vào trang viết, những chi tiết ấy trở nên sắc bén, khiến người đọc ấn tượng mạnh.
Ngày nay, người làm báo có thể theo dõi một vụ việc rất kỹ qua tài liệu, dữ liệu hay các nguồn gián tiếp. Nhưng nếu không thật sự đi, gặp và chạm vào đời sống, bài viết khó có được những chi tiết như vậy.
Như thế, bài học từ Vũ Trọng Phụng không chỉ là kỹ năng viết phóng sự, mà còn là cách ông sống với nghề: phải tiếp cận thực tế để tìm thấy con người, chi tiết và cảm xúc, qua đó tạo nên sức nặng của đời sống.
* Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
Theo các tư liệu hiện có, trong vòng 6 năm, từ 1933 đến 1938, Vũ Trọng Phụng đã để lại 7 thiên phóng sự: Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Dân biểu và dân biểu (1935), Cơm thầy cơm cô (1936), Vẽ nhọ bôi hề (1936), Lục xì (1937), Một huyện ăn Tết (1938).



