23/07/2026 10:36 GMT+7
Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh một yêu cầu có ý nghĩa như một nguyên tắc phát triển: "Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người".

Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh một yêu cầu có ý nghĩa như một nguyên tắc phát triển: "Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người". 

Đặt trong mạch bàn về đổi mới mô hình phát triển, thông điệp ấy cho thấy tăng trưởng kinh tế không phải đích đến duy nhất. Một đất nước chỉ thực sự phát triển khi kinh tế lớn mạnh hơn, xã hội tốt đẹp hơn, con người phát triển toàn diện hơn, cộng đồng gắn kết hơn và niềm tin của Nhân dân được củng cố.

Khi tăng trưởng không thể chỉ được đo bằng sự gia tăng của cải

Thông điệp "không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người" được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt trong nội dung về xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Điều đó mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi văn hóa không được xem như một lĩnh vực riêng biệt, đứng bên ngoài hay đi sau phát triển kinh tế, mà được đặt ngay trong cấu trúc của mô hình phát triển quốc gia.

Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa - Ảnh 1.

Phiên khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: Dương Giang - TTXVN

Theo đó, phát triển phải đồng thời làm cho quy mô nền kinh tế lớn hơn, xã hội tốt đẹp hơn, con người phát triển toàn diện hơn, cộng đồng gắn kết hơn và niềm tin được củng cố. Không để tăng trưởng làm gia tăng bất bình đẳng hoặc đẩy người yếu thế ra bên lề; phải lấy con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, pháp luật và kỷ cương làm trụ cột. Thước đo cuối cùng là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của Nhân dân.

Đây là một cách nhìn toàn diện, nhân văn và rất hiện đại về phát triển. Trong nhiều thập niên, tăng trưởng thường được nhìn trước hết qua tốc độ gia tăng GDP, thu nhập, đầu tư, xuất khẩu hay quy mô đô thị. Những chỉ số đó rất cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của một xã hội.

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: Dương Giang - TTXVN

Một quốc gia có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao, có thêm nhiều công trình hiện đại, nhiều khu đô thị mới, nhiều sản phẩm công nghệ tiên tiến, nhưng nếu đạo đức xã hội suy giảm, con người trở nên vô cảm hơn, các quan hệ cộng đồng bị rạn nứt, khoảng cách giàu nghèo gia tăng và người yếu thế bị bỏ lại phía sau, thì sự phát triển ấy chưa thể được coi là bền vững.

Giàu có về vật chất nhưng nghèo nàn về đời sống tinh thần có thể dẫn đến những nghịch lý: con người có nhiều phương tiện giao tiếp hơn nhưng lại ít lắng nghe nhau hơn; có nhiều lựa chọn giải trí hơn nhưng cảm thấy cô đơn hơn; có điều kiện tiêu dùng tốt hơn nhưng niềm tin xã hội suy giảm; có nhiều thành tựu công nghệ hơn nhưng lại thiếu sự bình an, lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm.

Bởi vậy, điều quan trọng không chỉ là chúng ta tạo ra bao nhiêu của cải, mà còn là của cải ấy được phân phối như thế nào, được sử dụng vào mục tiêu gì và góp phần hình thành một xã hội như thế nào. Tăng trưởng phải làm giàu thêm đời sống vật chất, nhưng cũng phải bồi đắp phẩm giá con người, đạo đức xã hội, tình cảm cộng đồng và niềm tin vào tương lai.

Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh chóng. Công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, giao tiếp, tiêu dùng văn hóa và tổ chức đời sống xã hội. Nó mở ra những cơ hội lớn để nâng cao năng suất, phổ biến tri thức, mở rộng khả năng sáng tạo và đưa con người đến gần nhau hơn. Nhưng công nghệ cũng có thể làm xuất hiện những nguy cơ mới đối với văn hóa, đạo đức và tình người.

Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa - Ảnh 3.

Thành bậc điện Kính Thiên, thời Lê trung hưng là hiện vật gốc, độc bản gắn với di tích điện Kính Thiên - di tích quan trọng đặc biệt của Di sản văn hóa thế giới khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội. Ảnh: Thanh Tùng - TTXVN

Nguy cơ đầu tiên là con người bị cuốn vào một môi trường sống quá coi trọng tốc độ, hiệu suất và sự nổi tiếng tức thời. Khi mọi giá trị đều dễ dàng được quy đổi thành lượt xem, lượt thích, doanh thu hay khả năng gây chú ý, những giá trị cần thời gian để bồi đắp như chiều sâu tri thức, sự tử tế, lòng trung thực và trách nhiệm có thể bị xem nhẹ.

Nguy cơ thứ hai là sự phân mảnh của cộng đồng. Các nền tảng số có khả năng kết nối hàng triệu người, nhưng cũng có thể tạo ra những "ốc đảo thông tin", nơi mỗi người chỉ tiếp xúc với những quan điểm giống mình. Điều đó dễ làm gia tăng định kiến, cực đoan, sự thiếu khoan dung và những hành vi phán xét, công kích người khác.

Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa - Ảnh 4.

Chùa Vĩnh Nghiêm, nơi lưu giữ và trưng bày 3050 Mộc bản khắc kinh, được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương vào tháng 5/2012. Ảnh: Minh Quyết – TTXVN

Nguy cơ thứ ba là sự thương mại hóa thái quá các giá trị văn hóa. Khi văn hóa chỉ được nhìn qua khả năng sinh lời trước mắt, những loại hình nghệ thuật cần đầu tư lâu dài, những giá trị truyền thống khó thương mại hóa hay những cộng đồng yếu thế có thể không nhận được sự quan tâm tương xứng. Thị trường rất quan trọng, nhưng thị trường không thể là cơ chế duy nhất quyết định giá trị nào cần được bảo vệ và phát triển.

Nguy cơ thứ tư là bất bình đẳng mới do chênh lệch về khả năng tiếp cận tri thức, công nghệ và cơ hội sáng tạo. Chuyển đổi số có thể tạo ra cơ hội lớn cho người trẻ ở mọi vùng miền, nhưng cũng có thể khiến những người thiếu kỹ năng, thiếu hạ tầng hoặc thiếu điều kiện kinh tế bị tụt lại phía sau. Nếu không có chính sách phù hợp, khoảng cách số có thể nhanh chóng trở thành khoảng cách văn hóa, giáo dục và phát triển.

Từng là loại hình âm nhạc được biểu diễn trong các nghi lễ cung đình triều Nguyễn, nhã nhạc cung đình Huế ngày nay vẫn cất lên giữa những không gian quen thuộc của Đại Nội. Khi di sản được đặt vào đời sống đương đại, theo định hướng của Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, những thanh âm cung đình không chỉ đứng yên trong quá khứ, mà đang được dần lan tỏa, đến gần hơn với công chúng hôm nay. Ảnh: Vân Chi/TTXVN

Những nguy cơ ấy cho thấy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công nghệ không tự động dẫn đến tiến bộ văn hóa. Văn hóa cần được chủ động kiến tạo, bảo vệ và bồi đắp bằng chính sách, giáo dục, môi trường xã hội và trách nhiệm của mỗi chủ thể.

Văn hóa ở đây không chỉ là văn học, nghệ thuật, di sản hay lễ hội. Văn hóa còn là cách con người đối xử với nhau, thái độ với cộng đồng, tinh thần thượng tôn pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm công dân và khả năng chia sẻ với người yếu thế. Một xã hội giàu văn hóa là xã hội không chỉ có nhiều sản phẩm văn hóa, mà còn có những con người biết sống tử tế, có trách nhiệm và biết đặt lợi ích chung bên cạnh lợi ích cá nhân.

Vì thế, phát triển kinh tế đồng thời với phát triển văn hóa trước hết phải trở thành một lựa chọn nhất quán trong tư duy chính sách. Mỗi quyết định về kinh tế, đô thị, công nghệ, giáo dục hay an sinh xã hội đều cần được xem xét cả về tác động văn hóa. Một dự án có thể tạo ra tăng trưởng, nhưng liệu có làm đứt gãy không gian văn hóa cộng đồng hay không? Một nền tảng công nghệ có thể mang lại lợi nhuận, nhưng có bảo vệ trẻ em, dữ liệu cá nhân và sự lành mạnh của môi trường xã hội hay không? Một đô thị có thể hiện đại hơn, nhưng người dân có thêm không gian công cộng, có cảm giác thuộc về và có chất lượng sống tốt hơn hay không?

Chỉ khi những câu hỏi ấy trở thành một phần của quá trình hoạch định và thực thi chính sách, yêu cầu "không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa" mới thực sự đi vào đời sống.

Để văn hóa vừa là nền tảng, vừa trở thành động lực của tăng trưởng

Lấy con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng không có nghĩa là đặt văn hóa ở vị trí thụ động, chỉ làm nhiệm vụ điều chỉnh những mặt trái của tăng trưởng. Trong mô hình phát triển mới, văn hóa còn có thể và cần phải trở thành một nguồn lực trực tiếp tạo ra tăng trưởng, việc làm, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ rõ yêu cầu chuyển từ mô hình phụ thuộc nhiều vào vốn, tài nguyên, gia công và lao động giá rẻ sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao và quản trị hiện đại. Khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải được chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.

Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa - Ảnh 6.

Văn hóa được bảo tồn và phát huy, thể thao không ngừng phát triển, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới. Trong ảnh: Đối với người Việt, Tết Nguyên đán là dịp mọi người trong gia đình sum vầy bên nhau, tận hưởng niềm vui đoàn viên. Ảnh: Khánh Hòa – TTXVN

Trong quá trình ấy, văn hóa giữ một vị trí đặc biệt bởi văn hóa chính là nơi kết tinh tri thức, bản sắc, tài năng sáng tạo và những giá trị khác biệt của một quốc gia. Nếu tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn thì tài nguyên văn hóa và sức sáng tạo của con người có khả năng được tái tạo, làm mới và gia tăng giá trị không ngừng.

Di sản, nghệ thuật, thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, thủ công mỹ nghệ, thời trang, quảng cáo, kiến trúc, trò chơi điện tử, nội dung số và du lịch văn hóa đều có thể trở thành những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao. Khi được kết hợp với công nghệ, thị trường và năng lực quản trị hiện đại, các nguồn lực văn hóa không chỉ tạo ra sản phẩm tinh thần, mà còn hình thành thương hiệu, việc làm, nguồn thu và sức mạnh mềm quốc gia.

Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa - Ảnh 7.

Phụ nữ Thủ đô trong trang phục áo dài đạp xe qua các điểm di sản của Hà Nội. Ảnh: Nhật Anh – TTXVN

Một bộ phim thành công không chỉ mang lại doanh thu phòng vé, mà còn quảng bá cảnh quan, lối sống, ẩm thực và hình ảnh đất nước. Một sản phẩm thủ công truyền thống được thiết kế lại phù hợp với thị trường hiện đại không chỉ giúp bảo tồn nghề, mà còn tạo sinh kế cho cộng đồng. Một lễ hội được tổ chức chuyên nghiệp có thể trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc. Một nền tảng nội dung số của Việt Nam có thể đưa câu chuyện, âm nhạc và hình ảnh Việt Nam đến với công chúng toàn cầu.

Văn hóa vì thế không đối lập với tăng trưởng hai con số. Ngược lại, nếu được đầu tư đúng hướng, văn hóa có thể trở thành một trong những động lực quan trọng giúp tăng trưởng có chất lượng cao hơn, bền vững hơn và mang đậm bản sắc Việt Nam hơn.

Để hiện thực hóa điều đó, chính sách công trước hết phải đặt văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển, thay vì chỉ coi văn hóa là một lĩnh vực cần chi ngân sách để bảo tồn. Đầu tư cho văn hóa cần được nhìn nhận là đầu tư cho con người, năng lực sáng tạo, sức cạnh tranh và tương lai của đất nước.

Cần bảo đảm người dân ở mọi vùng miền có cơ hội tiếp cận, tham gia và sáng tạo văn hóa. Hệ thống thiết chế văn hóa, thư viện, bảo tàng, nhà hát, trung tâm sáng tạo và không gian công cộng phải thực sự trở thành những nơi nuôi dưỡng tri thức, cảm xúc, năng lực sáng tạo và sự gắn kết cộng đồng. Khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa đô thị và nông thôn, giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn cần được thu hẹp.

Giáo dục cũng phải giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành con người có tri thức, nhân cách, kỹ năng số, năng lực sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Nếu chỉ đào tạo con người biết làm việc mà không biết chung sống, biết cạnh tranh mà không biết hợp tác, biết sử dụng công nghệ mà thiếu đạo đức, thì chúng ta chưa tạo ra được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của một xã hội văn minh.

Đồng thời, phải xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp và trên không gian số. Pháp luật cần bảo vệ quyền sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ và sự đa dạng văn hóa; đồng thời xử lý nghiêm những hành vi xúc phạm nhân phẩm, lan truyền thông tin độc hại, trục lợi từ sự lệch chuẩn và phá hoại niềm tin xã hội.

Lễ hội Vật cầu nước làng Vân - Di sản độc đáo vùng Kinh Bắc. Ảnh: TTXVN

Đối với các ngành công nghiệp văn hóa, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo: hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng, xây dựng dữ liệu, hỗ trợ đào tạo nhân lực, mở rộng thị trường và khuyến khích hợp tác công – tư. Doanh nghiệp phải trở thành chủ thể quan trọng trong chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm và dịch vụ có giá trị; nghệ sĩ, nhà sáng tạo và cộng đồng phải được tạo điều kiện để cống hiến, được bảo vệ quyền lợi và được hưởng lợi chính đáng từ thành quả sáng tạo.

Một yêu cầu quan trọng khác là phải xây dựng các tiêu chí đo lường phù hợp. Hiệu quả của chính sách văn hóa không chỉ được đánh giá bằng số lượng sự kiện, công trình hay danh hiệu, mà còn bằng mức độ tham gia của người dân, sự phát triển của thị trường văn hóa, số lượng việc làm sáng tạo, giá trị tài sản trí tuệ, mức đóng góp vào nền kinh tế và tác động đến chất lượng sống, niềm tin xã hội.

Kể từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam được ban hành, nhiều mục tiêu và định hướng lớn đã và đang được hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Trong tiến trình đó, thế hệ trẻ ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Điều quyết định vẫn là năng lực tổ chức thực hiện. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu sau Hội nghị, mỗi nghị quyết, kết luận phải được cụ thể hóa ngay thành chương trình, kế hoạch hành động với mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền, nguồn lực, trách nhiệm, thời hạn, sản phẩm và kết quả rõ ràng.

Đối với lĩnh vực văn hóa, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa, bởi nhiều chủ trương đúng đã được ban hành nhưng đôi khi chậm được chuyển hóa thành cơ chế, nguồn lực và hành động cụ thể. Muốn văn hóa thực sự trở thành nền tảng và động lực, phải xác định rõ ai chịu trách nhiệm, đầu tư vào đâu, sản phẩm nào cần được hình thành, thị trường nào cần được mở rộng và kết quả cuối cùng được đo bằng điều gì.

Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người" không chỉ là lời cảnh báo về những mặt trái có thể xuất hiện trong quá trình phát triển. Đó còn là sự xác lập một hệ giá trị và một triết lý phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới.
PGS-TS Bùi Hoài Sơn
PGS-TS Bùi Hoài Sơn Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Chúng ta cần tăng trưởng nhanh để tạo thêm nguồn lực, nhưng nguồn lực ấy phải được sử dụng để con người có cuộc sống tốt đẹp hơn. Chúng ta cần công nghệ hiện đại, nhưng công nghệ phải phục vụ con người và những giá trị nhân văn. Chúng ta cần những đô thị giàu có, nhưng đó phải là những đô thị đáng sống, có ký ức, có bản sắc, có không gian công cộng và tình cảm cộng đồng. Chúng ta cần một nền kinh tế lớn mạnh, nhưng cũng cần một xã hội nhân ái, công bằng và giàu niềm tin.

Khi văn hóa trở thành nền tảng định hướng, nguồn lực sáng tạo và hệ điều tiết của phát triển, tăng trưởng kinh tế sẽ không chỉ tạo ra nhiều của cải hơn, mà còn góp phần tạo ra những con người tốt đẹp hơn, những cộng đồng gắn bó hơn và một đất nước giàu mạnh, văn minh, nhân văn hơn.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn
Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Xem thêm

Bốn bước chuyển để mở đường phát triển

Bốn bước chuyển để mở đường phát triển

20/07/2026 12:28

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đặt ra yêu cầu mỗi quyết sách phải tháo gỡ được điểm nghẽn, tạo ra năng lực phát triển mới và được kiểm chứng bằng kết quả thực tế. Đó là bước chuyển mạnh mẽ từ tư duy định hướng sang tư duy hành động vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân.

Nghị quyết 80 mở đường cho những chuyển động mới của văn hóa Việt Nam

Nghị quyết 80 mở đường cho những chuyển động mới của văn hóa Việt Nam

19/07/2026 12:05

Sau hơn 6 tháng triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, nhiều địa phương, đơn vị trên cả nước đã đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn di sản, chuyển đổi số, phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo nghệ thuật.

Từ Đề cương 1943 đến Nghị quyết 80: Sự tiếp nối của một dòng chảy kiến tạo

Từ Đề cương 1943 đến Nghị quyết 80: Sự tiếp nối của một dòng chảy kiến tạo

06/06/2026 08:11

Tám mươi ba năm trước, giữa âm hưởng của cuộc Thế chiến II và sự bế tắc của tầng lớp trí thức trước gông cùm nô dịch, Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943) đã ra đời như một "ngọn đuốc soi đường cho quốc dân đi".