Tiếp theo chuyện đổi mới giáo dục nghệ thuật để thích ứng với chuyển đổi số, kỳ này là việc ứng dụng nhiều công nghệ trong giảng dạy. Công nghệ đang từng bước làm thay đổi cách xây dựng học liệu, tổ chức hoạt động học tập, theo dõi sự tiến bộ và phát triển năng lực nghề nghiệp cho người học.
Thay vì chỉ hỗ trợ trình chiếu, tìm kiếm hoặc lưu trữ tài liệu, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo (AI) bắt đầu tham gia sâu hơn vào quá trình khám phá, luyện tập, sáng tạo và phản hồi.
Trải nghiệm văn hóa song hành cùng công nghệ
Ở khía cạnh chuyên môn, theo các chuyên gia, AI đã được nghiên cứu, thử nghiệm trong phân tích tác phẩm, hòa âm, luyện hát, dạy nhạc cụ, xây dựng học liệu và cá nhân hóa hoạt động học tập. Công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường, truyền thông số, môi trường biểu diễn ảo và lớp học đảo ngược cũng mở rộng khả năng tiếp cận, luyện tập ngoài lớp học truyền thống.
Tuy nhiên, giá trị của những chuyển động này không nằm ở sự xuất hiện của từng công nghệ riêng lẻ, mà ở khả năng tích hợp công nghệ vào một quy trình sư phạm có mục tiêu, gắn với đặc thù của từng loại hình nghệ thuật.
Đơn cử, một thực nghiệm tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho thấy rõ cách tiếp cận này. PGS-TS Nguyễn Thị Tân Nhàn (Trưởng Khoa Thanh nhạc, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) cho biết, trong năm học 2024 - 2025, đơn vị đã triển khai mô hình dạy hát dân ca trên 100 người học, gồm 50 học sinh trung cấp và 50 sinh viên đại học. Mô hình này được xây dựng trên 2 trụ cột: Tăng cường trải nghiệm văn hóa đa chiều và ứng dụng công nghệ thông tin.

Trong lớp học Trường Tiểu học Hùng Lô (Phú Thọ), dưới nhịp trống xoan rộn ràng, nghệ nhân cùng cô giáo hướng dẫn học sinh tham gia buổi truyền dạy hát xoan, tạo nên không khí sinh động của di sản trong học đường. Ảnh: Hoàng Hùng - TTXVN
Ở trụ cột thứ nhất, Khoa Thanh nhạc mời nghệ nhân quan họ Bắc Ninh, ca trù trao đổi chuyên môn với giảng viên; đồng thời yêu cầu mỗi bài học phải bắt đầu bằng việc tìm hiểu bối cảnh văn hóa trước khi phân tích kỹ thuật thanh nhạc. Các chuyến điền dã tại không gian quan họ Bắc Ninh và hát xoan Phú Thọ còn tạo điều kiện để sinh viên nghe nghệ nhân hát truyền khẩu, trực tiếp tham gia diễn xướng và trao đổi về cách lấy hơi, nảy hạt, buông chữ.
Ở trụ cột công nghệ, 100% giảng viên được tập huấn sử dụng công cụ thu âm và phân tích âm thanh. Sinh viên tự ghi âm để nhận diện những chỗ luyến, nhả chữ chưa đúng; khai thác kho học liệu số, gồm các bản ghi cổ, video bài giảng mẫu của nghệ nhân và nhạc nền dân tộc; đồng thời nộp nhật ký video hằng tuần để giảng viên, bạn học cùng nhận xét về khẩu hình, kỹ thuật và biểu cảm. Công nghệ cũng được tích hợp vào các dự án nhóm kéo dài 4 tuần, trong đó sinh viên sưu tầm bản ghi của nghệ nhân, phân tích ngôn ngữ, quay quá trình luyện tập, sau đó thuyết trình và biểu diễn kết quả.
Sau thực nghiệm, tỷ lệ người học làm chủ kỹ thuật và phong cách tăng từ 44% lên 72% ở hệ trung cấp, từ 60% lên 88% ở hệ đại học. Theo đánh giá của 15 giảng viên, tỷ lệ học tập chủ động tăng từ 35% lên 86,67%, trong khi tỷ lệ thụ động giảm từ 65% xuống 13,33%.
Kết quả này cho thấy công nghệ không thay thế phương pháp truyền khẩu mà góp phần "lý luận hóa và trực quan hóa" quá trình truyền dạy; còn trải nghiệm văn hóa giúp người học không tách kỹ thuật hát khỏi ngôn ngữ, lối diễn xướng và môi trường sống của dân ca.
Kết hợp hài hòa giữa công nghệ và giá trị văn hóa
Rõ ràng, các mô hình thử nghiệm ứng dụng công nghệ đã bước đầu mở rộng không gian và nâng cao hiệu quả giáo dục nghệ thuật. Tuy nhiên, trong thực tiễn quá trình này cũng đặt ra nhiều vấn đề cần được nhận diện, nhất là nguy cơ sai lệch văn hóa và phụ thuộc vào thuật toán khi sử dụng AI.
Từ khảo sát câu hỏi mở với 100 người, TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp (Trường Đại học Thủ Dầu Một) chỉ ra tính 2 mặt của AI khi được đưa vào giáo dục nghệ thuật truyền thống.

Học sinh Trường Tiểu học Thái Phiên (Đắk Lắk) tìm hiểu sản phẩm dệt thổ cẩm của đồng bào người Ê Đê. Ảnh: Tường Quân – TTXVN
Công nghệ này có thể hỗ trợ tiếp cận dữ liệu văn hóa, nhận diện tạo hình, mô phỏng phong cách, phục dựng hình ảnh, phát triển ý tưởng và mở rộng cách diễn giải di sản. Ở chiều ngược lại, sự phụ thuộc vào dữ liệu và thuật toán có thể dẫn đến đồng nhất hóa, làm sai lệch biểu tượng, pha trộn tùy tiện các yếu tố văn hóa, giảm trải nghiệm trực tiếp với vật liệu và tách sản phẩm khỏi bối cảnh địa phương.
Theo TS Điệp, đây là những nguy cơ cần được nhận diện ngay trong quá trình tổ chức dạy học. Bởi trong giáo dục nghệ thuật, một kết quả thiếu chính xác không chỉ là sai sót về thông tin; nó còn có thể tác động tới cách người học nhận biết, cảm thụ và diễn giải giá trị văn hóa.
Từ đây, chuyên gia này đề xuất mô hình đồng sáng tạo người - AI lấy con người làm trung tâm. Người học cần bắt đầu bằng việc khám phá di sản và thực hành theo phương thức truyền thống trước khi thử nghiệm với AI; kết quả do công nghệ hỗ trợ phải tiếp tục được đánh giá, sáng tạo lại và phản biện. Việc triển khai phải bảo đảm tính xác thực văn hóa, kiểm chứng dữ liệu, minh bạch công cụ, tôn trọng bản quyền và duy trì thực hành thủ công; đồng thời tăng cường vai trò thẩm định của giảng viên, nghệ nhân và cộng đồng.
Cách tiếp cận này cho thấy mở rộng không gian giáo dục nghệ thuật không đồng nghĩa với chuyển toàn bộ hoạt động học tập lên môi trường số. Giá trị của công nghệ nằm ở khả năng kéo dài quá trình học trước và sau giờ lên lớp, mở rộng nguồn học liệu và tạo thêm cơ hội luyện tập, phản hồi, sáng tạo. Trong khi đó, thực hành trực tiếp và sự kết nối với môi trường văn hóa vẫn là điều kiện để người học hiểu được chiều sâu của tác phẩm, kỹ thuật biểu đạt và bối cảnh hình thành di sản.
Nhìn tổng thể, chuyển đổi số trong giáo dục nghệ thuật đã được triển khai qua những mô hình, thực nghiệm bước đầu và ghi nhận kết quả tích cực. Để chuyển từ những thử nghiệm riêng lẻ sang đổi mới thực chất, cần tiếp tục kiểm chứng, hoàn thiện và nhân rộng các mô hình phù hợp, bảo đảm công nghệ được tích hợp vào quá trình dạy học trên nền tảng văn hóa và vai trò chủ thể của con người.