Văn hoá

Khi các bảo tàng chuyển mình đón khách

11/05/2026 06:35 GMT+7 Google News

Một câu chuyện đáng chú ý trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua: vào kỳ nghỉ lễ, bên cạnh những bãi biển hoặc khu du lịch, nhiều bảo tàng lớn trên cả nước cũng trở thành điểm đến của khách tham quan, với suy nghĩ tìm về những cột mốc lịch sử qua hệ thống hiện vật, trưng bày chuyên đề hoặc các hoạt động trải nghiệm.

Tại đó, hình ảnh những dòng người xếp hàng trước cổng các bảo tàng cho thấy: trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, thiết chế văn hóa - giáo dục này vẫn có giá trị rất quan trọng, cần được khai thác hết tiềm năng, đặc biệt trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Thiết chế văn hóa tiềm năng

Theo thống kê của Sở Du lịch Hà Nội, từ ngày 25/4 đến 2/5, Di tích Nhà tù Hỏa Lò đã đón khoảng 36.000 lượt khách. Riêng ngày cao điểm 1/5, Ban Quản lý di tích tạm tính có khoảng 10.000 người đến tham quan.

 Tại đó, từ đầu giờ sáng, dòng người đã xếp hàng trước cổng trên phố Hỏa Lò, kéo dài tới phố Hai Bà Trưng. Để điều tiết lượng khách, di tích tổ chức cho từng nhóm 10 người nối tiếp vào tham quan, với thời gian chờ trung bình 20-30 phút. Bên trong không gian trưng bày này, nhiều du khách dừng lại khá lâu trước các khu giam giữ tù chính trị, lắng nghe câu chuyện về các chiến sĩ cách mạng và thắp hương tưởng nhớ những người đi trước.

Khi các bảo tàng chuyển mình đón khách - Ảnh 1.

Du khách tham quan Nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Ảnh: Thanh Tùng - TTXVN

Tương tự, tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, những ngày đầu tháng 5, các không gian trưng bày gắn với hai cuộc kháng chiến của dân tộc cũng thu hút khá đông người xem. Như chia sẻ, mẫu huy hiệu "Chiến sĩ Điện Biên Phủ", với đường kính chỉ khoảng 2cm, là hiện vật đặc biệt được nhiều người quan tâm - khi đây là chiếc huy hiệu được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề xuất ngay lúc chiến dịch chưa kết thúc. Nó mang theo nhiều biểu tượng quan trọng: núi rừng Tây Bắc, cánh đồng Mường Thanh, người chiến sĩ, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng", pháo cao xạ. Hoặc, lá đơn tình nguyện về Nam chiến đấu ngày 29/3/1965 của 29 học sinh miền Nam cũng gây xúc động mạnh: kèm theo lời kết "Chữ ký của chúng tôi đã mang theo máu và hy vọng" là 29 chữ ký và dấu vân tay được in bằng máu.

Đáng nói, bên cạnh phần trưng bày, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia còn triển khai những chương trình giáo dục lịch sử đặc thù trong dịp này. Thống kê cho thấy, chuỗi chương trình trải nghiệm "Thống nhất non sông" của bảo tàng diễn ra trong hơn 3 tuần đã thu hút gần 3.000 học sinh, với các hình thức như tham quan trực tuyến, giờ học lịch sử trực tuyến, giao lưu chuyên đề, học lịch sử bằng tiếng Anh.

Các bảo tàng đông khách nhất tại địa bàn TP.HCM dịp lễ 30/4 và 1/5 vừa qua gồm có Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, Bảo tàng TP.HCM… Trong đó nổi trội hơn về lượng khách là Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, đón hơn 10.000 lượt khách mỗi ngày.

Nhìn rộng hơn, nhiều bảo tàng lớn tại Hà Nội cũng cho thấy rõ sức hút của các không gian gắn với lịch sử trong dịp này. Tại đó, du khách trong và ngoài nước có thể tới Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam để cùng chia sẻ những ký ức về chiến dịch Điện Biên Phủ qua hệ thống hiện vật đồ sộ, sa bàn 3D mapping, video và audio guide.

Khi các bảo tàng chuyển mình đón khách - Ảnh 2.

Các bạn trẻ tham quan, tìm hiểu về Huy hiệu "Chiến sĩ Điện Biên Phủ" tại không gian trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Ảnh: BTLSQG

Hoặc, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đó là câu chuyện gắn với tác phẩm Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ của Nguyễn Sáng. Trong khi đó, Bảo tàng Hà Nội tổ chức tọa đàm "Hậu phương và tiền tuyến - Những lá thư không tem" cùng các hoạt động trưng bày miễn phí để mở ra cách tiếp cận lịch sử từ những tư liệu đời thường, gần với đời sống tinh thần của con người trong chiến tranh.

Những gì diễn ra cho thấy: vượt khỏi vai trò lưu giữ hiện vật và di sản, hệ thống bảo tàng ở Việt Nam đang dần chứng minh khả năng trở thành những không gian mở hiện đại, gắn với đời sống xã hội và đảm nhiệm chức năng giáo dục lịch sử theo cách hấp dẫn hơn.

Từ quán tính cũ đến nhu cầu đổi mới

Đáng nói, những tín hiệu tích cực ở một số bảo tàng hiện nay cần được nhìn trong lịch sử phát triển lâu dài của thiết chế văn hóa này tại Việt Nam. Có giai đoạn, bảo tàng phát huy rõ vai trò giáo dục lịch sử trong những điều kiện xã hội đặc thù; nhưng cũng có lúc, chính cách làm quen thuộc ấy trở nên chậm nhịp trước sự thay đổi của công chúng.

Theo các tư liệu cũ, trước năm 1945, cùng với sự du nhập của văn hóa Pháp, một số bảo tàng đầu tiên tại Việt Nam được xây dựng và đi vào hoạt động trên cả ba miền, như Louis Finot, Parmentier, Blanchard de la Brosse (nay là các Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Điêu khắc Chăm Đà Nẵng và Lịch sử TP.HCM)… Còn sau năm 1945, hoạt động bảo tồn - bảo tàng được đặt trong một hệ giá trị mới: khẳng định chủ quyền văn hóa, lưu giữ ký ức dân tộc và phục vụ giáo dục xã hội. Đặc biệt, trong điều kiện chiến tranh rồi tới thời bao cấp, bảo tàng Việt Nam sớm mang đậm chức năng lịch sử - xã hội, coi giáo dục truyền thống yêu nước và ký ức cách mạng là nhiệm vụ trung tâm.

Khi các bảo tàng chuyển mình đón khách - Ảnh 3.

Học sinh Trường Mầm non Phần Lan (FIS) - cơ sở Minh Khai - tham quan Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Ảnh: BTLSQG

Như một số chuyên gia phân tích, trong nhiều thập niên, hệ thống bảo tàng đã làm tốt vai trò tuyên truyền, giáo dục lịch sử theo những yêu cầu đặc thù. Khi xã hội còn ít thiết chế văn hóa, bảo tàng là nơi công chúng tiếp cận lịch sử trực quan qua hiện vật, với cách trưng bày nghiêm trang, tuyến tính, dễ tiếp nhận. Nhưng khi đời sống thay đổi, người xem có nhiều lựa chọn văn hóa, giải trí hơn, còn cách tiếp nhận thông tin cũng khác trước, mô hình cũ bắt đầu bộc lộ giới hạn.

Để rồi, sau nhiều năm lận đận, cho đến cuối thập niên 2010, vấn đề thiếu hiệu quả trong hệ thống bảo tàng tại Việt Nam vẫn được đưa ra tại nhiều cuộc tọa đàm. Theo các thống kê khi đó, trong khoảng 180 bảo tàng trên cả nước, với hơn 2/3 là bảo tàng công lập, một lượng lớn vẫn hoạt động dưới kỳ vọng. Tình trạng này xuất hiện rõ nhất tại các bảo tàng địa phương, nơi nhiều hệ thống trưng bày đã cũ kỹ, lạc hậu và thường xuyên vắng khách. Ngay cả một số bảo tàng ở đô thị lớn cũng có lượng khách thấp hơn kỳ vọng, khi người lui tới chủ yếu là khách nước ngoài hoặc sinh viên ngành bảo tàng.

"Nhìn chung, cách kể chuyện, tổ chức trưng bày và vận hành của nhiều bảo tàng giai đoạn đó đã không còn theo kịp nhu cầu của công chúng" - PGS Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) chia sẻ với người viết.

Như lời ông, những hạn chế ấy thể hiện rõ nhất trong lối trưng bày "thông sử", tức trình bày lịch sử tuần tự qua các giai đoạn, giống như một cuốn sách giáo khoa mở rộng. Cách làm này dễ nặng về liệt kê, thiếu điểm nhấn, khiến người xem đi qua nhiều phần trưng bày nhưng khó nhớ một câu chuyện, một nhân vật hoặc một hiện vật cụ thể. Rồi, cùng với đó là sự rập khuôn trong thiết kế: ma-nơ-canh giống nhau, tủ kính giống nhau, bảng giới thiệu dài và khô khan, cách sắp đặt hiện vật thiếu khoảng nghỉ…

Khi các bảo tàng chuyển mình đón khách - Ảnh 4.

Thế hệ trẻ chính là tương lai của các bảo tàng. Ảnh: BTLSQG

Hoặc, ở góc độ quản lý, cơ chế bao cấp một thời cũng khiến nhiều bảo tàng ít chịu áp lực nâng cao chất lượng, trong khi hiệu quả xã hội, lượng khách hoặc sự hài lòng của công chúng chưa hẳn luôn được xem là thước đo quan trọng. Thậm chí, với tâm lý nôn nóng, một số bảo tàng còn được thành lập trong tình trạng xây dựng trước, lên kế hoạch sưu tầm và trưng bày sau, khiến kiến trúc và nội dung trưng bày không dễ ăn khớp và các tuyến tham quan thiếu sức sống.

Đáng nói, chính trong những giới hạn ấy, nhu cầu thay đổi của bảo tàng lại trở nên rõ ràng hơn. Và, những tín hiệu tích cực ở một số bảo tàng thời gian qua không chỉ đến từ nỗ lực riêng lẻ của từng đơn vị, mà còn gắn với sự vận động chung của xã hội. Cùng lúc, sự phát triển của công nghệ mở cũng tạo thêm cơ hội để nhiều bảo tàng khắc phục những hạn chế cũ và thử nghiệm những cách "kể chuyện" mới, linh hoạt và gần hơn với người xem.

Theo nhiều chuyên gia, trong lộ trình phát triển của bảo tàng Việt Nam, giai đoạn đại dịch Covid-19 (2020-2021) là một cột mốc đáng chú ý. Khi hoạt động tham quan trực tiếp bị gián đoạn, nhiều bảo tàng đã chủ động thử nghiệm trưng bày trực tuyến, tour online, giới thiệu hiện vật trên các nền tảng số. Để rồi, từ một giải pháp "bổ sung", những hình thức này dần cho thấy tiềm năng lâu dài để giúp các bảo tàng mở rộng không gian tương tác và dễ kết nối với người xem.

Tất nhiên, sự chuyển mình ấy không chỉ là kết quả của sức ép hoàn cảnh. Điều đáng ghi nhận là trong nhiều năm qua, không ít bảo tàng đã âm thầm tự tìm đường để kéo người xem trở lại. Những nỗ lực bền bỉ, có nơi kéo dài cả chục năm, đã tạo nên nền tảng cho các tín hiệu tích cực của một số bảo tàng như hiện nay.

Bảo tàng trong định hướng phát triển văn hóa mới

Việc phát triển các bảo tàng hiện nay là hướng đi phù hợp với định hướng đổi mới các thiết chế văn hóa được nêu trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó đặt nhiệm vụ - giải pháp "Xây dựng thiết chế "văn hóa số", "bảo tàng mở", "nhà hát di động", "thư viện số" thân thiện với mọi lứa tuổi" và "Tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia ngang tầm khu vực và quốc tế, như: bảo tàng quốc gia, nhà hát quốc gia".

(Còn tiếp)

Đông Mai

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm