Ngày 8/5/1960, trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, gần 8,2 triệu cử tri miền Bắc nô nức đi bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa II. Không chỉ là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Quốc hội khóa II còn gánh vác trọng trách hoàn thiện thể chế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Bầu cử Quốc hội khóa II (ngày 8/5/1960)
Ngày 8/5/1960 - ngày bầu cử Quốc hội khóa II, là ngày hội của Nhân dân miền Bắc. Gần 8,2 triệu cử tri miền Bắc, từ thành thị đến nông thôn, đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đến bỏ phiếu tại 22.530 điểm bầu cử khắp miền Bắc.

Quốc hội khoá II đã đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và khôi phục kinh tế ở miền Bắc, đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam; đã thực thi những chính sách phù hợp về dân chủ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong những điều kiện cực kỳ khó khăn; góp phần bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của chính quyền Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng đất nước ở miền Nam và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu giữ chức Phó Chủ tịch nước, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa II (7/1960). Ảnh: Tư liệu TTXVN
362 đại biểu trúng cử Quốc hội khóa II cùng với 91 đại biểu miền Nam trong Quốc hội khóa I được quyết định kéo dài nhiệm kỳ đã thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi, phản ảnh đầy đủ ý chí và nguyện vọng của Nhân dân Việt Nam.
Dấu ấn nhiệm kỳ (1960-1964)
Quốc hội khóa II hoạt động trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, đã góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ, thực hiện thống nhất nước nhà, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã phát huy vai trò quan trọng của mình trong việc động viên sức người, sức của để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Quốc hội khóa II (1960-1964) có dấu ấn lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ban hành các chính sách dân chủ, chăm lo đời sống, củng cố chính quyền nhà nước và hoạt động đối ngoại tích cực lên án chiến tranh, đạt nhiều thành tựu quan trọng trong bối cảnh đất nước còn khó khăn và chiến tranh ác liệt. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nhất trí thông qua Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa II . Ảnh: TTXVN
Tăng cường pháp chế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trong nhiệm kỳ của Quốc hội khóa II, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 6 luật, 261 nghị quyết và pháp lệnh nhằm kiện toàn bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ nhân dân, bảo vệ nhà nước, bảo vệ quyền lợi của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 1959.
Thông qua kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
Các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp. Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa II (28/4-8/5/1963), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trên cơ sở các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đạt nhiều kết quả, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống Nhân dân về mọi mặt, đồng thời tăng cường củng cố quốc phòng, giữ gìn trật tự an ninh bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần thiết thực vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.
Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa II
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa II (1960-1964), hoạt động giám sát tiếp tục được củng cố, từng bước hoàn thiện trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Quốc hội đã thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét, đánh giá các báo cáo của Chính phủ và các cơ quan hữu quan; đồng thời, thông qua hoạt động chất vấn, thảo luận tại các kỳ họp, thể hiện rõ vai trò kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Trong điều kiện đặc biệt của đất nước, hoạt động giám sát đã góp phần bảo đảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, củng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy chính quyền và sự lãnh đạo của Đảng, từ đó tạo nền tảng cho những bước phát triển tiếp theo của Quốc hội.

Quốc hội khoá II đã đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và khôi phục kinh tế ở miền Bắc, đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam; đã thực thi những chính sách phù hợp về dân chủ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong những điều kiện cực kỳ khó khăn. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa II tại tiểu khu Trúc Bạch, khu phố Ba Đình (Hà Nội, 8/5/1960). Ảnh: TTXVN
Hoạt động đối ngoại: tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế
Trong điều kiện xây dựng đất nước ở miền Bắc và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam, hoạt động đối ngoại của Quốc hội ngày càng phong phú, đa dạng trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa. Quốc hội tập trung lên án sự leo thang chiến tranh, phá hoại hòa bình của Mỹ ngụy, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước anh em đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà. Quốc hội đã cử nhiều phái đoàn đi thăm các nước và đón tiếp các đoàn đại biểu nước ngoài đến thăm. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn nhiều hiệp định, hiệp ước kinh tế, thiết lập quan hệ ngoại giao và cử đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.

Đồng bào dân tộc Mán xem tranh cổ động bầu cử Quốc hội khóa II (1960). Ảnh: Vũ Tín - TTXVN
Dù hoạt động trong điều kiện chiến tranh và chia cắt, Quốc hội Việt Nam khóa II (1960-1964) đã để lại những dấu ấn đậm nét về lập pháp, giám sát và đối ngoại. Từ việc tăng cường pháp chế theo tinh thần Hiến pháp 1959, thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đến mở rộng quan hệ quốc tế, Quốc hội đã khẳng định vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo nền tảng thể chế quan trọng cho chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước.