Tin tức 24h

Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960)

10/03/2026 16:16 GMT+7 Google News

Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc đã bầu ra Quốc hội Việt Nam khóa I - Quốc hội của nước Việt Nam độc lập. Trong bối cảnh "ngàn cân treo sợi tóc", 89% cử tri cả nước đi bỏ phiếu, khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân và ý chí bảo vệ nền độc lập non trẻ. 

Suốt hơn 14 năm hoạt động (1946-1960), Quốc hội khóa I đã đặt nền móng cho thể chế dân chủ cộng hòa, đồng hành cùng Chính phủ lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc và xây dựng cơ sở pháp lý cho sự nghiệp thống nhất đất nước.

Bầu cử Quốc hội khóa I (ngày 6/1/1946)

Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được tổ chức trên phạm vi toàn quốc, trong cảnh đất nước vừa giành độc lập nhưng còn đối mặt với vô vàn khó khăn, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt của thực dân Pháp. Bất chấp mọi hiểm nguy, Nhân dân cả nước đã nô nức tham gia bầu cử với tỷ lệ lên tới 89%, riêng Hà Nội đạt 91,95% cử tri đi bỏ phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao (98,4%).

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960) - Ảnh 1.

Trong thời kỳ kháng chiến cứu nước vô cùng ác liệt, với tinh thần tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp 1959 tạo nền tảng pháp lý cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Mình và các thành viên trong Ban sửa đổi Hiếp pháp sau khi hoàn thành nhiệm vụ (25/12/1959). Ảnh: TTXVN

Tại Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới mưa bom, bão đạn, 42 cán bộ, chiến sĩ cách mạng đã anh dũng hy sinh, thể hiện tinh thần quyết tử vì quyền làm chủ của Nhân dân. Kết quả, 333 đại biểu ưu tú đã được bầu vào Quốc hội khóa I, đại diện cho các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và tôn giáo trên cả nước.

Cuộc Tổng tuyển cử là sự kiện lịch sử trọng đại, mở đầu cho quá trình xây dựng chế độ dân chủ mới; là sự khởi đầu và phát triển của Quốc hội, một thiết chế dân chủ, trụ cột trong Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960)

Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khóa I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa. Do điều kiện chiến tranh, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khóa I kéo dài hơn 14 năm (từ 1/1946 - 5/1960). Trải qua 12 kỳ họp với sự hoạt động linh hoạt, Ban Thường trực Quốc hội luôn có mặt bên cạnh Chính phủ để chỉ đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Quốc hội đã ban hành 2 bản Hiến pháp (năm 1946, năm 1959), nhiều đạo luật, nghị quyết quan trọng, đàm phán, ký kết và đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva, khôi phục kinh tế miền Bắc... góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chi viện cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I họp ngày 2/3/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, với sự tham dự của gần 300 đại biểu vừa được bầu thông qua Tổng tuyển cử. Trong kỳ họp rất ngắn, chỉ kéo dài từ 9 giờ sáng đến 13 giờ 30 phút, các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng số đại biểu Quốc hội thêm 70 người thuộc Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội. Quốc hội cũng đã thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội; bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố làm Trưởng Ban Dự thảo Hiến pháp…

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960) - Ảnh 2.

Quốc hội đã ban hành Hiến pháp 1959 tạo nền tảng pháp lý cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội nhất trí thông qua Hiến pháp mới tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I (1959). Ảnh: TTXVN

Cùng Chính phủ kiên quyết bảo vệ nền độc lập; xây dựng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân

Sau khi ra đời và đi vào hoạt động, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, thử thách, Quốc hội khóa 1 và Ban Thường trực Quốc hội đã cùng Chính phủ được Quốc hội bầu ra do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã khẩn trương đưa ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, linh hoạt kịp thời để bảo vệ, gìn giữ nền độc lập; xây dựng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân; bài trừ nội phản; động viên Nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống; đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ; từng bước xây dựng nền tài chính quốc gia, phát hành giấy bạc; tranh thủ thời gian củng cố lực lượng; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, v.v..

Lập Chính phủ mới và thông qua hiến pháp đầu tiên

Tại Kỳ họp thứ hai (28/10 - 9/11/1946), Quốc hội khóa I đã biểu quyết tán thành chính sách chung do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, chấp nhận sự từ chức của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến và ủy nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chính phủ mới-Chính phủ Kháng chiến, theo nguyên tắc đoàn kết, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái và bầu Ban Thường trực Quốc hội, gồm 18 thành viên, do ông Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban và các ông Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt làm Phó Trưởng ban. Tại Kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1946, Dự án Luật Lao động và các nghị quyết về nội trị, ngoại giao.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960) - Ảnh 3.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ lá phiếu đầu tiên bầu Ban Thường trực Quốc hội mới tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa I. Ảnh: TTXVN

Hiến pháp năm 1946 gồm Lời nói đầu, 7 chương và 70 điều. Đó là "bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà... là một vết tích lịch sử, Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông". Hiến pháp đó "tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập..., dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do.... phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp" (Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Hoạt động ngoại giao bảo vệ nền độc lập dân tộc

Trước tình hình đất nước ở thế "ngàn cân treo sợi tóc, Quốc hội đã trao quyền quyết định cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Để giữ gìn nền độc lập, Chính phủ đã thực hiện sách lược ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo để loại bớt kẻ thù, tránh đổ máu, tranh thủ thời gian để củng cố và phát triển lực lượng. Theo đó, thay mặt Chính phủ, ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ 6/3.

Ngày 16/4/1946, Ban Thường trực Quốc hội đã cử phái đoàn gồm 10 đại biểu, do Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm Pháp (từ ngày 25/4 đến 16/5/1946). Tiếp đó, từ ngày 6/7 đến ngày 13/9/1946, ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Việt Nam tham dự cuộc đàm phán chính thức Việt Pháp ở Fontainebleau. Cuộc đàm phán Việt-Pháp ở Fontainebleau, việc ký Tạm ước 14/9/1946, cũng như phái đoàn Quốc hội Việt Nam sang thăm nước Pháp đã nêu rõ thiện chí hòa bình và hữu nghị của Việt Nam trong mối quan hệ bang giao với nước Pháp. Uy tín của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Quốc hội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Những nỗ lực đàm phán hòa bình giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Pháp vào giữa năm 1946 để công nhận một nước Việt Nam độc lập đã không thành công. Pháp quyết gây chiến tranh, không thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 đã ký kết, đòi tước vũ khí của Việt Minh và liên tiếp gây ra các cuộc thảm sát ở Hải Phòng, Hà Nội, đẩy cuộc chiến tranh đến bùng nổ. Sáng 17/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông, Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn để thống nhất quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước. Trước tình thế hết sức khẩn trương, đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960) - Ảnh 4.

Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I họp kỳ thứ nhất đã cử Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ảnh: TTXVN

Từ tháng 12/1946 đến tháng 7/1954, trên cơ sở Hiến pháp được Quốc hội thông qua (9/11/1946) và thực tiễn kháng chiến, Chính phủ đã ban hành khoảng 400 sắc lệnh và nhiều nghị định, thông tư để lãnh đạo cuộc kháng chiến, kiến quốc. Các sắc lệnh của Chính phủ được ban hành đều có sự thống nhất của Ban Thường trực Quốc hội. Ban Thường trực cũng đã góp ý kiến với Chính phủ về các nghị quyết và chương trình công tác quan trọng.

Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I thông qua những nghị quyết quan trọng

Từ ngày 1/12 đến ngày 4/12/1953, Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I, Kỳ họp duy nhất được tổ chức tại Việt Bắc, có 166 đại biểu về dự (Bắc Bộ 94 đại biểu, Trung Bộ 62 đại biểu, Nam Bộ 10 đại biểu). Kỳ họp đã thảo luận và lần lượt thông qua Nghị quyết tín nhiệm Chính phủ; Nghị quyết biểu dương các đại biểu Quốc hội đã từ trần vì đất nước; Nghị quyết truất quyền đại biểu Quốc hội của những đại biểu đã rời bỏ nhiệm vụ kháng chiến và thông qua Dự án Luật Cải cách ruộng đất.

Quốc hội với những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao

Thắng lợi trên mặt trận quân sự là cơ sở để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Sau khi Hội nghị bốn cường quốc tại Berlin (Đức) đồng ý triệu tập Hội nghị Geneva về Đông Dương, Ban Thường trực Quốc hội đã cùng Chính phủ thống nhất cử Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu đại diện cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị, đồng thời góp ý kiến chỉ đạo việc quyết định ký Hiệp định Geneva. Đêm 20 rạng ngày 21/7/1954, Hiệp định về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký tại Geneva (Thụy Sĩ).

Ngày 27/7/1954, Ban Thường trực Quốc hội họp Hội nghị mở rộng, ghi nhận thắng lợi trên mặt trận ngoại giao, thông qua Nghị quyết và Lời kêu gọi về việc ký kết các Hiệp định đình chiến ở Đông Dương gửi đại biểu Quốc hội và toàn dân, mở đầu giai đoạn đấu tranh thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Geneva, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn cách mạng mới; quyết định những vấn đề quan trọng

Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa I (20-26/3/1955) họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội. "Khóa họp này là khóa họp đấu tranh để thi hành Hiệp định Geneva, để đẩy mạnh cải cách ruộng đất, để phục hồi và phát triển kinh tế, để nâng cao đời sống nhân dân, để củng cố chính quyền, củng cố Quân đội nhân dân, tiến lên thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Đó cũng là kỳ họp đầu tiên trong hòa bình giữa Thủ đô giải phóng.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960) - Ảnh 5.

Quốc hội giai đoạn 1946 -1960 đã góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, với chiến thắng Ðiện Biên Phủ lừng lẫy, đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong ảnh: Chiến thắng Điện Biên Phủ “lững lẫy năm châu, chấn động địa cầu” là một trong những đỉnh cao chói lọi, được ghi vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam (7/5/1954). Ảnh: TTXVN

Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa I (15/9-20/9/1955) đã đề ra đường lối, phương châm đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ; phương hướng và giải pháp khôi phục kinh tế, củng cố miền Bắc làm cơ sở cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước; đồng thời, quyết định một số vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc kỳ, Quốc ca và Quốc huy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thông qua các chương trình khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng

Xây dựng và củng cố miền Bắc là một nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề được Quốc hội đặc biệt quan tâm. Quốc hội khẳng định nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế quốc dân bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, làm giảm bớt đời sống khó khăn của Nhân dân là nền tảng của toàn bộ công tác củng cố miền Bắc. Theo đó, tại các kỳ họp thứ tư và thứ năm, Quốc hội khóa I đã thảo luận kỹ và thông qua Chương trình khôi phục, phát triển kinh tế, xã hội 3 năm (1955-1957) của Chính phủ; đồng thời, thông qua chính sách "Củng cố quốc phòng, củng cố quân đội".

Ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam

Song song với việc thực hiện những nhiệm vụ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 1955-1960, củng cố và xây dựng miền Bắc, Quốc hội khóa I đã luôn tỏ rõ ý chí của toàn dân kiên quyết đấu tranh đòi thi hành triệt để Hiệp định Geneva, bày tỏ sự căm phẫn và tố cáo những tội ác của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với nhân dân miền Nam trước nhân dân thế giới.

Thông qua Hiến pháp năm 1959

Kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa I (18-31/12/1959) là một trong những kỳ họp lịch sử của Quốc hội Việt Nam. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Hiến pháp năm 1959. Bản Hiến pháp mới gồm 10 chương với 112 điều là nền tảng pháp lý cho thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960) - Ảnh 6.

Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo trước Quốc hội về bản Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I, họp từ ngày 18 - 31/12/1959. Ảnh: TTXVN

Hiến pháp năm 1959 gồm Lời nói đầu, 10 chương và 112 điều, ghi rõ nước Việt Nam là một nước thống nhất có nhiều dân tộc, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Hiến pháp quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, xây dựng một Nhà nước kiểu mới dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ theo pháp chế xã hội chủ nghĩa và cơ sở kinh tế của nhà nước là "tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội".

Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa I

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hoạt động giám sát bước đầu được hình thành, thể hiện rõ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội khóa I đã tiến hành giám sát thông qua việc xem xét báo cáo của Chính phủ, chất vấn các thành viên Chính phủ tại các kỳ họp, và ban hành những nghị quyết quan trọng liên quan đến tình hình đất nước. Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, chiến tranh tiếp diễn, hoạt động giám sát tuy chưa có cơ chế đầy đủ như ngày nay nhưng đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính chủ động và vai trò nền tảng trong việc bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền non trẻ.

Đây chính là dấu ấn khởi đầu cho chức năng giám sát tối cao ngày càng hoàn thiện của Quốc hội trong những nhiệm kỳ tiếp theo.

Mở rộng quan hệ đối ngoại

Trong nhiệm kỳ khóa I, Quốc hội chưa có điều kiện để cử nhiều phái đoàn đi thăm và làm việc với Quốc hội các nước, song đã cố gắng đặt quan hệ trao đổi thư từ với Quốc hội Trung Quốc, Triều Tiên và nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác. Quốc hội cũng đã cử đại biểu tham gia các đoàn của Chính phủ đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa. Hoạt động đối ngoại giai đoạn này nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nhiều nước trên thế giới, mở rộng và phát triển quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước trong phong trào giải phóng dân tộc và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các nước trên thế giới với công cuộc đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và Dấu ấn nhiệm kỳ (1946-1960) - Ảnh 7.

Quốc hội Việt Nam giai đoạn 1946 – 1960, đặt nền móng cho nền dân chủ nghị viện và sự phát triển của Nhà nước pháp quyền. Trong ảnh: Khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá I, ngày 2/3/1946. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Với hai bản Hiến pháp năm 1946 và 1959, cùng hàng loạt quyết sách về kháng chiến, kiến quốc và ngoại giao, Quốc hội Việt Nam khóa I đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của Quốc hội đầu tiên. Từ bảo vệ nền độc lập, làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến đặt nền tảng pháp lý cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Quốc hội khóa I đã khắc sâu dấu ấn về bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn đầy thử thách của đất nước.

Tư liệu TTXVN

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm