Sáng mai, 24/4/2026, trong ngày bế mạc Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, theo dự kiến Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam. Việc một nghị quyết chuyên đề về văn hóa được thông qua ở nghị trường quốc gia, ngay trong kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ mới, là một dấu mốc có ý nghĩa rất lớn: không chỉ khẳng định vị trí ngày càng quan trọng của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước, mà còn mở ra một giai đoạn mới, trong đó văn hóa được trao thêm cơ chế, nguồn lực và không gian để thực sự bứt phá.
Có những thời điểm, việc Quốc hội thông qua một nghị quyết không chỉ mang ý nghĩa lập pháp thông thường, mà còn phản ánh một bước chuyển trong tư duy phát triển quốc gia. Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam được dự kiến thông qua ngày 24/4/2026 là một thời điểm như thế.
Ra đời đúng lúc, đúng nhu cầu phát triển của đất nước
Bởi lẽ, trong suốt một thời gian dài, chúng ta đều nói rất nhiều về vai trò của văn hóa. Văn hóa được khẳng định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là động lực của phát triển. Nhưng từ nhận thức đúng đến thể chế đủ mạnh là một hành trình không ngắn. Có thể nói, điểm nghẽn lớn nhất của phát triển văn hóa lâu nay không hẳn nằm ở chỗ chúng ta thiếu quyết tâm chính trị, mà nằm ở chỗ chưa có đủ những công cụ thể chế để biến quyết tâm ấy thành nguồn lực, thành hành động, thành kết quả đo đếm được trong đời sống. Nghị quyết của Quốc hội đã đi thẳng vào những "nút thắt" đó, với các nhóm chính sách về nguồn lực, ưu đãi đầu tư, công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, nhân lực đặc thù, đặt hàng sáng tạo và quảng bá sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề trong phiên thảo luận ở hội trường sáng 22/4 về Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam. Ảnh: An Đăng - TTXVN
Chính vì vậy, việc nghị quyết được thông qua không chỉ là sự hoàn tất một quy trình lập pháp, mà là sự khẳng định rằng văn hóa đã thực sự bước vào trung tâm của tư duy kiến tạo phát triển. Điều này rất gần với tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI: "Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai; Luật không chỉ "mở đường" mà còn phải "sửa đường".
Đặt trong bối cảnh đó, Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam chính là một nỗ lực "mở đường" rất rõ. Nó cho thấy Quốc hội và cả hệ thống chính trị đã nhận diện đúng một yêu cầu cấp thiết: nếu muốn văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, thành sức mạnh mềm quốc gia, thành động lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững, thì phải bắt đầu từ thể chế.
Khơi thông điểm nghẽn
"Ý nghĩa lớn nhất của Nghị quyết có lẽ không chỉ nằm ở những điều khoản cụ thể. Điều quan trọng hơn là nó tạo ra một niềm tin mới: văn hóa đang được đặt đúng vị trí hơn trong tư duy phát triển quốc gia" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.
Điểm đáng chú ý nhất của nghị quyết là không nói chung về văn hóa, mà chạm đúng vào các điểm nghẽn đã kéo dài nhiều năm. Thứ nhất là điểm nghẽn về nguồn lực. Nghị quyết xác lập nguyên tắc Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển, đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực xã hội. Đây không chỉ là một quy định kỹ thuật về tài chính công. Đó là một tuyên bố về thứ tự ưu tiên phát triển. Một đất nước muốn phát triển bền vững, muốn xây dựng con người toàn diện, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh bằng bản sắc và sáng tạo, thì không thể để văn hóa ở vị trí "đến sau" trong phân bổ nguồn lực.
Thứ hai là điểm nghẽn về không gian và động lực phát triển mới. Nghị quyết đưa vào những thiết kế rất đáng chú ý như cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa; ưu đãi tiếp cận đất đai; ưu đãi thuế cho đầu tư vào hạ tầng số, công nghệ cao cho văn hóa và cho một số ngành trọng tâm như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, trò chơi điện tử trên mạng có nội dung quảng bá các giá trị văn hóa, lịch sử Việt Nam. Đây là bước chuyển rất quan trọng, bởi công nghiệp văn hóa chỉ có thể lớn mạnh khi được nhìn như một hệ sinh thái sản xuất – sáng tạo – phân phối – thương mại hóa, chứ không phải là những hoạt động rời rạc.

Độc giả trải nghiệm nền tảng sách số tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành sách" diễn ra tối 21/4 tại Phố sách Hà Nội. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN
Thứ ba là điểm nghẽn về con người làm văn hóa. Nghị quyết dành nhiều nội dung cho chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng và nhân lực đặc thù: từ tuyển dụng không qua thi tuyển với người có tài năng nổi trội, đến phụ cấp ưu đãi nghề, bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn, hỗ trợ đào tạo lại cho người hết tuổi nghề, đầu tư nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là những chính sách rất trúng và rất cần. Bởi không thể nói đến chấn hưng văn hóa nếu nghệ sĩ, nghệ nhân, vận động viên, người sáng tạo nội dung văn hóa vẫn phải loay hoay trong những điều kiện nghề nghiệp thiếu ổn định và thiếu khích lệ.
Thứ tư là điểm nghẽn trong cơ chế tài chính cho sáng tạo. Nghị quyết quy định cơ chế đặt hàng sáng tạo, phổ biến các công trình, tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị cao; cho phép giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu; đồng thời thí điểm khoán chi đối với một số hoạt động sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước. Đây là một thay đổi rất đáng kỳ vọng. Sáng tạo không thể bị bó cứng hoàn toàn trong logic của chi tiêu hành chính. Muốn có tác phẩm lớn, phải có cơ chế đủ tin cậy, đủ linh hoạt và đủ tôn trọng đặc thù sáng tạo.
Thứ năm là điểm nghẽn của thời đại số. Nghị quyết dành hẳn một điều cho chuyển đổi số và phát triển hạ tầng văn hóa số, từ cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, số hóa di sản, phát triển sản phẩm dịch vụ văn hóa số, thí điểm bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số, cho đến hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa – sáng tạo nội dung số. Điều đó cho thấy cách tiếp cận của nghị quyết không chỉ nhằm giải quyết những việc trước mắt, mà còn nhằm chuẩn bị cho tương lai của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Từ dấu mốc nghị trường đến kỳ vọng chấn hưng văn hóa
Nhưng ý nghĩa lớn nhất của nghị quyết có lẽ không chỉ nằm ở những điều khoản cụ thể. Điều quan trọng hơn là nó tạo ra một niềm tin mới: văn hóa đang được đặt đúng vị trí hơn trong tư duy phát triển quốc gia.
Phát biểu tại buổi gặp mặt văn nghệ sĩ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: "Mục tiêu của chúng ta là văn học nghệ thuật, văn hóa phải phục vụ nhân dân, nhân dân có quyền thụ hưởng bởi đời sống không chỉ là cơm ăn, áo mặc mà đòi hỏi cuộc sống tinh thần cũng phải được cải thiện, được hưởng thụ". Đó chính là thước đo sâu xa nhất để đánh giá ý nghĩa của nghị quyết này. Cuối cùng, mọi cơ chế, mọi ưu đãi, mọi quỹ hỗ trợ, mọi đổi mới trong đặt hàng hay chuyển đổi số đều phải hướng đến một đích đến rất căn bản: làm cho người dân được sống trong một đời sống tinh thần phong phú hơn, lành mạnh hơn, giàu bản sắc hơn; làm cho văn hóa hiện diện sâu hơn trong từng cộng đồng, từng gia đình, từng con người; làm cho người sáng tạo có điều kiện tốt hơn để cống hiến; và làm cho hình ảnh Việt Nam được kể với thế giới bằng những sản phẩm văn hóa ngày càng có tầm vóc hơn.
Đương nhiên, từ nghị quyết đến cuộc sống vẫn còn một chặng đường dài. Một văn bản tốt chỉ thực sự phát huy giá trị khi được cụ thể hóa thành nghị định, thông tư, chương trình hành động, cơ chế phối hợp, phân cấp rõ ràng và nguồn lực thực thi đủ mạnh. Sẽ còn rất nhiều việc phải làm để các quy định về ngân sách, đất đai, ưu đãi đầu tư, nhân lực đặc thù, đặt hàng sáng tạo, đô thị di sản, quỹ văn hóa nghệ thuật hay hạ tầng văn hóa số đi vào đời sống một cách hiệu quả, minh bạch và đúng mục tiêu.
Nhưng dẫu vậy, ngày 24/4/2026 vẫn có thể được xem là một cột mốc mới của phát triển văn hóa Việt Nam. Bởi từ đây, văn hóa không chỉ được nói đến bằng những lời khẳng định đúng đắn, mà đã được trao thêm nền tảng thể chế để cất cánh.
Và trong hành trình đi tới những mục tiêu lớn của đất nước, đó không phải là câu chuyện của riêng ngành văn hóa. Đó là câu chuyện của sức mạnh nội sinh dân tộc, của phẩm chất con người Việt Nam, của năng lực cạnh tranh quốc gia và của khát vọng phát triển một đất nước không chỉ giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, mà còn sâu về văn hóa, đẹp về nhân cách và bền vững trong tương lai.