22/02/2026 19:43 GMT+7
Yêu cầu “phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa” cho thấy một sự chuyển dịch rất căn bản trong tư duy phát triển của Đảng đối với văn hóa.

Yêu cầu “phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa” cho thấy một sự chuyển dịch rất căn bản trong tư duy phát triển của Đảng đối với văn hóa. Từ chỗ được xem như một lĩnh vực cần đầu tư, bao cấp - “chỉ biết tiêu tiền” - với chức năng chính là giáo dục, nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một ngành kinh tế đặc thù, vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa bồi đắp nền tảng tinh thần và sức mạnh mềm quốc gia.

Theo GS-TS Từ Thị Loan, sự chuyển dịch này phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, quảng cáo, du lịch văn hóa, sáng tạo số… không chỉ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của xã hội mà còn tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đóng góp ngày càng rõ nét vào GDP. Nhiều quốc gia đã chứng minh văn hóa hoàn toàn có thể trở thành “nguồn lực nội sinh” quan trọng cho tăng trưởng bền vững.

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 1.

GS-TS Từ Thị Loan

GS-TS Từ Thị Loan tiếp tục cuộc trò chuyện với Thể thao và Văn hóa (TTXVN):

- Việc coi văn hóa là một nguồn lực kinh tế gắn với sức mạnh mềm cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng trong cạnh tranh quốc gia hiện đại. Trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế sáng tạo, hình ảnh quốc gia, bản sắc văn hóa, giá trị và câu chuyện Việt Nam được lan tỏa thông qua các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có khả năng tạo ra ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài, đôi khi còn hiệu quả hơn cả các công cụ cứng về kinh tế hay chính trị.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng phát triển công nghiệp văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa giản đơn. Bài toán đặt ra là vừa khai thác giá trị kinh tế của văn hóa, vừa bảo đảm định hướng giá trị, giữ gìn bản sắc, nâng cao chất lượng sáng tạo và vai trò dẫn dắt của Nhà nước. Đây chính là tinh thần xuyên suốt của tư duy mới: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là động lực và nguồn lực cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 2.

Chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim” nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Ảnh: TTXVN

* Chúng ta thường nói Việt Nam là một “mỏ vàng” về tài nguyên văn hóa. Dưới góc nhìn của bà, làm thế nào để chúng ta thực sự chuyển hóa được “nguồn lực” thành “nguồn vốn” để tạo ra sức bật mới cho nền kinh tế?

- Việc Việt Nam được ví như một “mỏ vàng” về tài nguyên văn hóa là hoàn toàn có cơ sở, song tài nguyên chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành nguồn vốn - tức là được tổ chức, đầu tư, khai thác và tái tạo một cách bền vững. Dưới góc nhìn đó, để biến “resource” thành “capital” (“nguồn lực” thành “nguồn vốn”) theo tôi cần chú trọng một số điểm then chốt sau.

Thứ nhất, chuyển từ tư duy bảo tồn thuần túy sang tư duy phát triển dựa trên giá trị văn hóa. Bảo tồn vẫn là nền tảng, nhưng bảo tồn phải gắn với khai thác sáng tạo, với đời sống đương đại và nhu cầu của thị trường. Di sản, lễ hội, nghệ thuật truyền thống chỉ trở thành “vốn” khi được kể lại bằng những hình thức mới, sản phẩm mới, công nghệ mới, có khả năng tạo giá trị kinh tế, giá trị gia tăng.

Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hoàn chỉnh, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, doanh nghiệp là chủ thể đầu tư - sản xuất - phân phối, còn nghệ sĩ và cộng đồng là trung tâm sáng tạo. Nếu thiếu thị trường, thiếu doanh nghiệp và thiếu cơ chế khuyến khích đầu tư, tài nguyên văn hóa sẽ vẫn “nằm im” trong kho tàng di sản văn hóa.

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 3.

Chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim” nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Ảnh: TTXVN

Thứ ba, cần đầu tư cho con người và năng lực chuyển hóa giá trị. Nguồn vốn văn hóa không chỉ là di sản vật thể hay phi vật thể, mà còn là tri thức, kỹ năng sáng tạo, năng lực quản trị và khả năng kết nối văn hóa với kinh tế, du lịch, công nghệ. Đào tạo nguồn nhân lực văn hóa - sáng tạo chính là đầu tư cho “máy biến áp” chuyển tài nguyên thành vốn.

Cuối cùng, không thể thiếu cơ chế định giá, sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích công bằng. Khi giá trị văn hóa được đo lường, bảo hộ và tái đầu tư đúng cách, văn hóa mới có thể tạo ra dòng chảy kinh tế bền vững. Nói cách khác, chỉ khi văn hóa được đặt đúng vị trí trong chuỗi giá trị phát triển, “mỏ vàng” văn hóa Việt Nam mới thực sự phát huy được sức bật cho nền kinh tế trong giai đoạn mới.

* Dịch vụ văn hóa số đang bùng nổ nhưng cũng đầy thách thức về bản quyền và sự xâm lăng văn hóa. Bà đề xuất giải pháp gì để các sản phẩm văn hóa “Made in Vietnam” không bị lép vế trên không gian mạng và có thể tạo ra những “kỳ lân” trong lĩnh vực nội dung số?

- Đúng là dịch vụ văn hóa số đang mở ra dư địa phát triển rất lớn, nhưng nếu không có chiến lược bài bản thì sản phẩm văn hóa “Made in Vietnam” rất dễ lép vế ngay trên sân nhà. Theo tôi, cần triển khai đồng bộ một số nhóm giải pháp then chốt.

Thứ nhất là giải quyết căn cơ bài toán bản quyền trên không gian số. Bảo vệ bản quyền không chỉ để “giữ quyền lợi cho nghệ sĩ”, mà còn là điều kiện sống còn để hình thành các doanh nghiệp nội dung số lớn. Cần hoàn thiện khung pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường số; tăng cường năng lực thực thi, xử lý nhanh các vi phạm trên nền tảng xuyên biên giới; đồng thời thúc đẩy các mô hình quản lý bản quyền tập thể, ứng dụng công nghệ nhận diện nội dung, blockchain trong truy vết và phân phối doanh thu.

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 5.

Chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim” nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Ảnh: TTXVN

Tiếp đến là xây dựng năng lực cạnh tranh văn hóa, chứ không chỉ là phòng thủ trước “xâm lăng văn hóa”. Sản phẩm Việt Nam muốn đứng vững phải hấp dẫn, hiện đại, kể được câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ toàn cầu. Điều này đòi hỏi đầu tư nghiêm túc cho khâu kịch bản, sáng tạo nội dung, thiết kế, công nghệ và chiến lược phân phối, thay vì chỉ trông chờ vào tinh thần “bảo tồn” hay ưu tiên hành chính.

Thứ ba, hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp nội dung số đủ mạnh. Nhà nước cần có chính sách “đầu tư mồi” thông qua quỹ phát triển nội dung số, ưu đãi thuế, hỗ trợ thử nghiệm (sandbox) cho các mô hình mới như phim trực tuyến, âm nhạc số, game, hoạt hình, nền tảng sáng tạo. Chỉ khi doanh nghiệp đủ lớn, đủ vốn và đủ thị trường, chúng ta mới có thể nghĩ đến những “kỳ lân” văn hóa số.

Cuối cùng, không thể thiếu chiến lược quảng bá và định vị thương hiệu văn hóa Việt Nam trên không gian mạng. Khi bản sắc được chuyển hóa thành giá trị sáng tạo và kinh tế, văn hóa Việt không chỉ “không bị lép vế”, mà còn có thể trở thành một nguồn sức mạnh mềm thực sự trong kỷ nguyên số. 

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 6.

Chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim” nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 tại SVĐ Quốc gia Mỹ Đình. Ảnh: TTXVN

* Việt Nam đã có những thành phố gia nhập mạng lưới Thành phố sáng tạo của UNESCO. Theo bà, làm sao để các danh hiệu này không chỉ dừng lại ở mức “vinh danh” mà thực sự trở thành động lực thay đổi diện mạo đô thị và đời sống kinh tế của người dân địa phương?

- Theo tôi, danh hiệu Thành phố sáng tạo của UNESCO chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa từ “biểu trưng danh tiếng” thành một chiến lược phát triển đô thị dài hạn, gắn chặt với sinh kế của người dân và cấu trúc kinh tế địa phương.

Trước hết, cần đặt danh hiệu UNESCO vào đúng vị trí trong quy hoạch phát triển đô thị. Thành phố sáng tạo không thể chỉ là các sự kiện hay lễ hội rời rạc, mà phải được tích hợp vào quy hoạch không gian, hạ tầng, du lịch, giáo dục và kinh tế sáng tạo. Hà Nội, Hội An hay Đà Lạt cần xác định rõ: sáng tạo sẽ diễn ra ở đâu, dựa trên lĩnh vực cốt lõi nào, và đóng vai trò gì trong cấu trúc phát triển đô thị tổng thể. 

Chuyển trọng tâm từ “quản lý danh hiệu” sang “nuôi dưỡng hệ sinh thái sáng tạo”. Điều quan trọng không phải là báo cáo UNESCO bao nhiêu hoạt động, mà là có bao nhiêu nghệ sĩ, nhà thiết kế, doanh nghiệp sáng tạo, không gian sáng tạo được hình thành và sống được bằng nghề. Muốn vậy, chính quyền địa  phương cần tạo điều kiện về đất đai, thuế, phí, vốn, không gian thử nghiệm và thị trường cho các chủ thể sáng tạo.

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 7.

Hoạ sĩ Lê Hữu Hiếu với triển lãm - sắp đặt “Bạch đằng” bên bờ vịnh Hạ Long, đưa di sản văn hoá - lịch sử của dân tộc vào đời sống đương đại

Đồng thời, phải đặt người dân địa phương vào trung tâm của quá trình sáng tạo. Nếu danh hiệu chỉ mang lại lợi ích cho một số dự án hay doanh nghiệp bên ngoài, thì sẽ khó bền vững. Ngược lại, khi nghề thủ công, ẩm thực, âm nhạc, lễ hội, tri thức bản địa được nâng cấp thành sản phẩm sáng tạo có giá trị gia tăng, người dân sẽ trực tiếp hưởng lợi và trở thành lực lượng bảo vệ danh hiệu.

Cuối cùng, cần đo lường hiệu quả bằng tác động kinh tế - xã hội, không chỉ bằng hình ảnh hay truyền thông. Khi danh hiệu UNESCO góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện chất lượng sống và bản sắc đô thị, lúc đó “vinh danh” mới thực sự trở thành động lực phát triển bền vững cho địa phương.

* Con người là trung tâm của công nghiệp văn hóa. Theo bà, chúng ta cần một chiến lược đào tạo và đãi ngộ như thế nào để xây dựng được một tầng lớp “tinh hoa sáng tạo” - những người có khả năng kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ toàn cầu?

- Tôi hoàn toàn đồng tình rằng con người là trung tâm của công nghiệp văn hóa, và nếu không hình thành được một tầng lớp “tinh hoa sáng tạo”, thì mọi chiến lược, thể chế hay đầu tư hạ tầng đều khó phát huy hiệu quả. Theo tôi, chiến lược đào tạo và đãi ngộ cần được tiếp cận một cách dài hạn và thực chất.

Về đào tạo, cần chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực sáng tạo liên ngành. Người kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ toàn cầu không chỉ cần am hiểu văn hóa dân tộc, mà còn phải thành thạo ngoại ngữ, công nghệ số, tư duy thị trường và kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế. Vì vậy, các chương trình đào tạo nghệ thuật, văn hóa cần gắn chặt với truyền thông, thiết kế, công nghệ, quản trị sáng tạo; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, trao đổi nghệ sĩ, học bổng, thực tập trong các trung tâm sáng tạo hàng đầu thế giới.

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 9.

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh là một ví dụ điển hình về việc "lột xác" không gian lưu giữ truyền thống thành một điểm đến văn hóa số hiện đại. Ảnh: Bích Huệ - TTXVN

Về đãi ngộ và môi trường làm nghề, thì điều quan trọng là phải giúp người sáng tạo sống được và sống tốt bằng nghề. Cần có cơ chế thù lao tương xứng, bảo vệ bản quyền, bảo hiểm nghề nghiệp, quỹ hỗ trợ sáng tạo và không gian thử nghiệm cho các ý tưởng mới. Khi rủi ro sáng tạo được chia sẻ, người tài mới dám theo đuổi những dự án lớn, dài hơi.

Phải xây dựng hệ giá trị và chuẩn mực tôn vinh sáng tạo. Xã hội cần nhìn nhận nghệ sĩ, nhà sáng tạo không chỉ là người “làm nghệ thuật”, mà là lực lượng đóng góp trực tiếp cho kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia. Việc tôn vinh đúng người, đúng giá trị sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho thế hệ trẻ.

Tóm lại, đầu tư cho “tinh hoa sáng tạo” chính là đầu tư cho khả năng Việt Nam kể câu chuyện của mình một cách tự tin, hiện đại và có sức lan tỏa toàn cầu trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa.

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 10.

* Nếu dùng một hình ảnh để hình dung về diện mạo công nghiệp văn hóa Việt Nam trong 5-10 năm tới khi các quyết sách của Đại hội XIV đi vào cuộc sống, bà kỳ vọng vào một “mùa Xuân” như thế nào cho các nhà sáng tạo và công chúng thụ hưởng?

- Nếu dùng một hình ảnh để hình dung, tôi kỳ vọng công nghiệp văn hóa Việt Nam trong 5-10 năm tới sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - không ồn ào, phô trương, mà bền bỉ, đa sắc và có chiều sâu.

Đó trước hết là mùa Xuân của các nhà sáng tạo, khi họ không còn phải loay hoay “làm nghề trong rủi ro”, mà có thể yên tâm sáng tác, khởi nghiệp và sống được bằng tài năng của mình. Trong mùa Xuân ấy, nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà làm phim, nhà sản xuất nội dung số… được làm việc trong một hệ sinh thái minh bạch về bản quyền, công bằng về cơ hội, cởi mở với thử nghiệm và đủ rộng để những ý tưởng khác biệt có đất sống. Sáng tạo không còn là cuộc chơi đơn độc, mà trở thành một nghề nghiệp được xã hội tôn trọng và bảo vệ.

BÁO XUÂN: Công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ bước vào một “mùa Xuân khai nở” - Ảnh 11.

GS-TS Từ Thị Loan

Đó cũng là mùa Xuân của thị trường và công chúng, khi người dân được tiếp cận ngày càng nhiều sản phẩm văn hóa Việt Nam chất lượng cao, hiện đại, hấp dẫn nhưng vẫn đậm bản sắc. Công chúng không chỉ là người “tiêu dùng”, mà là người đồng hành, phản biện và nuôi dưỡng sáng tạo. Văn hóa trở lại đúng vị trí của nó trong đời sống hằng ngày: từ rạp chiếu, sân khấu, không gian công cộng đến nền tảng số và kinh tế ban đêm của đô thị.

Quan trọng hơn, đó là mùa Xuân của niềm tin. Niềm tin rằng văn hóa Việt Nam đủ sâu để hội nhập mà không hòa tan; đủ sáng tạo để cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường toàn cầu; và đủ nhân văn để góp phần làm cho phát triển kinh tế trở nên hài hòa, bền vững hơn. 

Khi những quyết sách của Đại hội XIV đi vào cuộc sống, tôi tin “mùa Xuân” ấy sẽ không chỉ là kỳ vọng, mà là một chu trình phát triển mới của công nghiệp văn hóa Việt Nam. 

* Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện!

Phạm Huy
Thông tấn xã Việt Nam
Thể thao và Văn hóa - Xuân Bính Ngọ 2026

Xem thêm

Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với tăng trưởng bền vững

Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với tăng trưởng bền vững

30/01/2026 07:55

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một trong những định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, đồng thời tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Công nghiệp văn hóa trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng: Từ hạ tầng sáng tạo đến du lịch văn hóa

Công nghiệp văn hóa trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng: Từ hạ tầng sáng tạo đến du lịch văn hóa

22/01/2026 07:12

Bức tranh công nghiệp văn hóa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là nơi ta phải nhìn sâu hơn, bình tĩnh hơn và cũng tự hào hơn.

Công nghiệp văn hóa trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng: Thị trường công nghiệp văn hóa bùng nổ

Công nghiệp văn hóa trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng: Thị trường công nghiệp văn hóa bùng nổ

21/01/2026 06:16

Nhìn toàn cảnh, thị trường công nghiệp văn hóa trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng phát triển không chỉ nhờ một vài lĩnh vực bùng nổ, mà nhờ một sự chuyển động đồng bộ hơn: nhận thức xã hội thay đổi, công chúng trưởng thành, công nghệ số tạo không gian phân phối mới, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư hơn, Nhà nước từng bước kiến tạo môi trường.