TT&VH đã có cuộc trò chuyện với TS Bùi Việt Hoa, tác giả cuốn sách này:
|
TS Bùi Việt Hoa |
- Nói ra thì dài lắm. Con cháu Mon Mân là kết quả của công trình “Khảo sát tiến trình ra đời của Kalêvala và vận dụng kết quả nghiên cứu sử thi này để biên soạn Sử thi Việt Nam”.
Nói đến Kalêvala, nhiều bạn đọc Việt Nam thường nghĩ đến một sử thi có duy nhất một văn bản với gần 23.000 câu thơ, được tái tạo lại từ “mảnh vụn” của một sử thi cổ đã tan vỡ theo thời gian. Nhưng kỳ thực không phải vậy, tác giả Elias Lonnrot (1802 – 1884) đã không hồi sinh lại sử thi cổ, mà ông sáng tạo nên Lalêvala từ nguồn gốc văn học dân gian của Phần Lan và Karelia. Ông đã nhận thấy, bên cạnh vai trò của người sưu tầm và ghi chép, ông buộc phải trao cho mình nhiệm vụ của nghệ nhân và người kể chuyện. Trong suốt quá trình biên soạn văn bản Kalevala ông đã gắn kết, hợp nhất các bài thơ và chủ đề của chúng theo cách mà mình thấy hợp lý nhất. (Theo ông, có thể biên soạn được ít nhất là bảy Kalêvala với các cốt truyện khác nhau bằng nguồn tư liệu có được lúc bấy giờ).
|
Năm 1994, giới văn học Việt Nam đã từng biết đến dịch giả Bùi Việt Hoa khi chị chuyển ngữ gần 23.000 câu thơ của Sử thi Phần Lan Kalêvala sang tiếng Việt và cuốn sách ấy, đã đoạt giải thưởng “Sách dịch của năm” của Hội Nhà văn Việt Nam – và chỉ với một tác phẩm duy nhất, chị đã đủ tiêu chuẩn trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. |
* Như vậy, có thể nói bà đã vận dụng “phương pháp” đã được áp dụng ở Kalêvala vào sử thi Việt Nam?
- Trong thời gian theo học ngôn ngữ, văn hóa và văn học dân gian Phần Lan tại Đại học Tổng hợp Helsinki, tôi đã có dịp tìm hiểu và làm luận án tiến sỹ với đền tài so sánh sử thi Mường Đẻ đất đẻ nước và Kalêvala. Nghĩ đến kho tàng văn hóa dân gian, nhất là nguồn sử thi miệng giàu có của các dân tộc trên đất nước mình, trong tôi đã nhen nhóm ý tưởng được làm một việc gì đó giống như Lonnrot đã làm.
* Sử thi Mon Mân là một cuốn sách văn học của cá nhân, mặc dù nó được hoàn thành dựa trên nguyên tác truyền thống của sử thi Việt Nam như “Đam Săn”, “Đẻ đất đẻ nước”… của người Mường và sử thi của vùng Tây Nguyên. Chị đã gặp những khó khăn gì trong quá trình sáng tác lại sử thi truyền thống để thành “Con cháu Mon Mân”?
![]() Cuốn “Con cháu Mon Mân” được gọi là “Sử thi Việt Nam” |
Tôi chọn thể thơ thất ngôn truyền thống vì thấy rằng thể thơ này vừa có khả năng bộc lộ chất tự sự của truyện dài, vừa có khả năng thể hiện tính trữ tình cần thiết khi miêu tả nội tâm nhân vật. Như vậy, ít hay nhiều, tôi buộc phải thay đổi lời thơ, vần điệu của các chương, đoạn lấy từ văn bản các sử thi nguồn. Tôi cũng buộc phải “thơ hóa” hay đúng hơn là “thất ngôn hóa” các đoạn lấy từ sử thi được dịch sang văn xuôi, mô típ, điển tích lấy tử thần thoại, truyền thuyết hay là cổ tích của các dân tộc.
Một khó khăn nữa trong quá trình biên soạn Con cháu Mon Mân, tư liệu tôi sử dụng là vốn văn hóa, văn học dân gian của các dân tộc nói các ngôn ngữ khác nhau. Nguồn tư liệu này đã được một hay nhiều soạn giả biên tập lại qua hai hoặc nhiều lần. Tôi cũng buộc phải sử dụng các phiên bản tiếng Việt của sản phẩm văn hóa dân gian các dân tộc ít người, mà không có khả năng đối chiếu xem bản tiếng Việt mình sử dụng đã chuyển tải được bao nhiều phần trăm bản gốc.
* Tại sao chị lại lấy tên tựa đề cuốn sách là Con cháu Mon Mân, nó có liên quan gì đến các truyền thuyết trong sử thi truyền thống?
- Con cháu Mon Mân trước hết là một tác phẩm văn học. Đã là tác phẩm văn học thì sẽ có hư cấu của tác giả. Tựa đề cuốn sách được phát triển từ hai chứ “đồng bào” và mô típ chính trong thần thoại các dân tộc Việt Nam: người Việt Nam ta được sinh ra từ bọc trăm trứng (thần thoại Việt), từ trứng điếc (Đẻ đất, đẻ nước – Mường), từ quả bầu sau nạn hồng thủy (thần thoại nhiều dân tộc ít người), là con Rồng, cháu Tiên. Mạch truyện của sử thi được bắt đầu từ lúc trời đất khai sinh, sự xuất hiện của con người, lớp lớp con cháu của Mon Mân – dòng dõi của Người và Tiên – đã chiến thắng thiên tai, khai phá và xây dựng nên Đồi, Biển, Rú Đá, nơi tổ tiên họ lưu lạc đến sau nạn hồng thủy. Tuy có những va chạm trong quá trình sinh tồn, nhưng dân của cả ba miền phải đoàn kết lại mới thắng được kẻ thù chung.
Để truyền tải được cốt truyện trên, tôi không những chỉ sử dụng nguồn tư liệu sử thi truyền thống và sử thi truyền miệng, mà còn chọn lọc, xây dựng các tích truyện từ truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ tự sự, ca dao, dân ca trữ tình… của các dân tộc Việt Nam. Ngay cả những mô típ chỉ xuất hiện đôi ba dòng trong các công trình nghiên cứu cũng được lựa chọn để sử dụng. Kho tàng văn học dân gian của phần lớn các dân tộc ở Việt Nam đã được tận dụng đến mức tối đa, trong điều kiện cho phép. Đấy là lý do chúng tôi đặt phụ đề “Sử thi Việt Nam” sau tên chính của tác phẩm.
|
Cuốn sử thi Việt Nam Con cháu Mon Mân dày 700 trang với 16.500 câu thơ, gồm 47 ca khúc sử thi truyền thống của hầu hết các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam được những người thực hiện dày công sưu tầm, biên soạn dựa trên các sử thi cũng như các nguồn văn học dân gian khác. |
- Nếu dân gian nói “của chồng công vợ” thì trong trường hợp của tôi phải nói là “của vợ công chồng”. Nếu không có anh Quế thì tôi khó lòng mà hoàn thành Con cháu Mon Mân vì chính anh ấy là người trực tiếp đến các bản làng, đồng bào dân tộc ít người, nơi xuất phát của sử thi để tìm tư liệu, diễn giải ngôn ngữ dân tộc thiểu số, ghi âm lời hát các ông mo, những nghệ nhân Mường… Trong nhiều tháng, chồng tôi phải về Việt Nam “nằm vùng” tại Tây Nguyên, Hòa Bình… để cóp nhặt tất cả những gì có thể làm tư liệu cho Con cháu Mon Mân trở nên hoàn chỉnh hơn.
* Xin cảm ơn chị!
