HighTech

Chuẩn bị hạ tầng để sẵn sàng đón nhận thế hệ học sinh số

28/05/2026 15:05 GMT+7 Google News

Hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, tại Hà Nội, từng lớp học, từng nhà trường và cả ngành Giáo dục đang từng ngày thay đổi.

Từ tuyển sinh trực tuyến, học liệu số đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giảng dạy và quản lý học sinh..., không chỉ giúp nhà trường vận hành hiệu quả hơn mà còn mở ra cách dạy, cách học mới, từng bước hình thành thế hệ công dân số thích ứng với thời đại công nghệ.

Từ bảng đen đến nền tảng số

Từ năm học 2025-2026, Trường Trung học cơ sở Giảng Võ (phường Giảng Võ, Hà Nội) triển khai mô hình "Lớp học số Google" tại các lớp: 6A1 (Lớp mũi nhọn môn Ngữ văn); lớp 6A6 (Lớp mũi nhọn môn Toán); lớp 6A9 (Lớp mũi nhọn môn Tiếng Anh) với 156 học sinh và 21 giáo viên tham gia giảng dạy. Mỗi học sinh tham gia lớp học được sử dụng riêng 1 máy tính xách tay hoặc một máy tính bảng, khuyến khích sử dụng Google Chromebook, bảo đảm được quản lý chặt chẽ về nội dung thông qua sự điều hành, giám sát của giáo viên.

Chuẩn bị hạ tầng để sẵn sàng đón nhận thế hệ học sinh số - Ảnh 1.

Học sinh Trường Trung học cơ sở Trưng Vương (phường Cửa Nam, Hà Nội) trải nghiệm công nghệ thực tế ảo. Ảnh: Nguyễn Cúc-TTXVN

Triển khai nội dung này, ngay từ đầu năm học, nhà trường tập trung chuẩn bị hạ tầng công nghệ, bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên và xây dựng kho học liệu phục vụ giảng dạy với 582 bài giảng điện tử; 100% giáo viên giảng dạy tại "Lớp học số Google" đều có Chứng chỉ Google Certified Educator Level 1; sử dụng thành thạo hệ sinh thái Google Workspace for Education; ứng dụng tốt AI trong công tác quản lý, dạy học, kiểm tra, đánh giá các hoạt động giáo dục, phù hợp định hướng đổi mới của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018.

Đặc biệt, nhà trường đã chủ động thực hiện chuyển đổi số thông qua việc vận hành kho học liệu điện tử phong phú với quy mô lên tới 19.906 tài nguyên số và 826 sách điện tử (E-book). Hệ thống thư viện số này đã tối ưu hóa khả năng tiếp cận tri thức, giúp học sinh có thể chủ động nghiên cứu và học tập một cách linh hoạt, mọi lúc, mọi nơi.

Theo nhà giáo Tô Thị Hải Yến, Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Giảng Võ, lớp học số được thực hiện với phương pháp giáo dục tích cực, dựa trên nền tảng công nghệ, lấy học sinh làm trung tâm nhằm góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; bảo đảm học sinh tiếp cận thông tin, nội dung số an toàn trên mọi thiết bị sử dụng trong trường học.

"Theo đánh giá độc lập, mức độ hứng thú trong giờ học, khả năng ghi nhớ kiến thức và kỹ năng công nghệ thông tin của học sinh đều đạt trên 92%. Mô hình này không chỉ hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học mà còn góp phần hình thành năng lực công dân số cho học sinh trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục. Thời gian tới, nhà trường đề xuất tiếp tục duy trì và mở rộng mô hình "Lớp học số Google" ở các khối lớp tiếp theo trong năm học 2026-2027", bà Hải Yến chia sẻ.

Có thể nói, thông qua môi trường học tập số, học sinh cũng được tiếp cận đa dạng nguồn học liệu mở. Quá trình học không còn giới hạn trong sách giáo khoa hay không gian lớp học, mà mở rộng sang tự học, học qua dự án, học thông qua trải nghiệm số. Điều này giúp các em rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng tự học suốt đời - những năng lực cốt lõi của công dân trong nền kinh tế tri thức.

Các hoạt động chuyển đổi số tại Trường Trung học cơ sở Nghĩa Tân (phường Nghĩa Đô, Hà Nội) cũng nhận được nhiều phản hồi tích cực của các giáo viên và học sinh. Mới đây, Tổ Ngữ văn của nhà trường đã tổ chức thành công chuyên đề "Ứng dụng AI trong dạy học đọc hiểu". Tiết học sinh động, giàu cảm xúc, kết hợp hài hòa giữa công nghệ và cảm xúc văn chương, mang đến nhiều trải nghiệm mới mẻ cho các em học sinh lớp 6A5 và toàn thể các thầy cô giáo Tổ Ngữ văn tham dự chuyên đề.

Chuẩn bị hạ tầng để sẵn sàng đón nhận thế hệ học sinh số - Ảnh 2.

Học sinh có thể tiếp cận kiến thức ở nhiều hình thức khác nhau, linh hoạt về thời gian và không gian. Ảnh: Nguyễn Cúc-TTXVN

Tại tiết học, học sinh được theo dõi video AI phỏng vấn nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, qua đó hiểu thêm về bối cảnh sáng tác và thông điệp của tác phẩm. Việc tích hợp AI trong việc khai thác tư liệu đã giúp bài học trở nên trực quan, sinh động hơn. Một điểm nhấn nổi bật là hoạt động đọc phân vai kết hợp xem video minh họa. Hình ảnh trực quan cùng giọng đọc nhập vai đã hỗ trợ học sinh hình dung rõ nét bối cảnh, diễn biến câu chuyện, từ đó tiếp cận văn bản sâu sắc hơn. Tiết học không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ, các trò chơi lồng ghép trong tiết học đã thu hút sự hưởng ứng tích cực của học sinh.

Cô giáo Nguyễn Thị Tuyết, giáo viên môn Ngữ văn cho biết, AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thể thay thế trải nghiệm đọc trực tiếp và những rung cảm cá nhân của mỗi học sinh khi tiếp cận tác phẩm. Chính sự đồng cảm, tưởng tượng và "sống cùng tác phẩm" mới là yếu tố cốt lõi giúp các em đến gần hơn với văn chương. Chuyên đề gửi gắm thông điệp rõ ràng: học sinh cần biết làm chủ công nghệ, sử dụng AI một cách chính xác, có chọn lọc và giàu tính nhân văn. Văn chương không chỉ là tri thức, mà còn là hành trình nuôi dưỡng tâm hồn, đòi hỏi trí tưởng tượng và cảm xúc chân thực của người đọc.

Xây dựng hệ sinh thái giáo dục số đồng bộ

Dù chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội đổi mới giáo dục, song thực tế cho thấy không phải trường học nào cũng có điều kiện tiếp cận đồng đều. Tại một số khu vực ngoại thành của Hà Nội, không chỉ cơ sở vật chất hay chất lượng giáo dục mà hạ tầng công nghệ, thiết bị học tập hay đường truyền internet vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc triển khai lớp học số và học liệu điện tử.

Bên cạnh đó, nhiều giáo viên, đặc biệt là giáo viên lớn tuổi, vẫn gặp khó khăn trong việc thích ứng với các phần mềm quản lý, thiết kế bài giảng số hay ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất mà còn cần tăng cường đào tạo kỹ năng số cho đội ngũ giáo viên, nhằm bảo đảm mọi học sinh, dù ở nội thành hay ngoại thành, đều có cơ hội tiếp cận môi trường học tập hiện đại và bình đẳng.

Nhà giáo Nghiêm Hồng Trung, Hiệu trường Trường Trung học phổ thông Quốc Oai (xã Quốc Oai, Hà Nội) cho rằng, chuyển đổi số là quá trình dài hơi, đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ quản trị đến tổ chức dạy học, lấy bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ nhà giáo làm "chìa khóa" cốt lõi. Nhà trường đã khắc phục khó khăn, nỗ lực triển khai quá trình chuyển đổi số bằng việc số hóa dữ liệu cán bộ, giáo viên và công tác thi đua, tăng cường ứng dụng AI để phân tích kết quả thi, từ đó thay đổi những hạn chế trong giảng dạy.

Theo Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Nguyễn Văn Hiền, cách mạng chuyển đổi số và AI đang định hình lại mọi mặt của đời sống, giáo dục Thủ đô cũng cần phải đổi mới và thích ứng. Giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức, mà là kiến tạo nên những con người có tư duy logic, có năng lực thích ứng và sở hữu khả năng sáng tạo vô hạn để làm chủ công nghệ. Bám sát tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, giáo dục Thủ đô đã quyết liệt đổi mới tư duy quản trị, tổ chức an toàn, khoa học các kỳ thi đầu cấp; tổ chức dạy và học thực chất và hướng đến hội nhập quốc tế.

Chuẩn bị hạ tầng để sẵn sàng đón nhận thế hệ học sinh số - Ảnh 3.

Học sinh không còn giới hạn trong sách giáo khoa mà mở rộng sang tự học, học qua dự án, qua trải nghiệm số. Ảnh: Nguyễn Cúc-TTXVN

"Chuẩn bị năm học mới 2026-2027, ngành Giáo dục Hà Nội sẽ chú trọng công tác chuyển đổi số toàn diện, lấy dữ liệu và AI làm đòn bẩy. Giáo dục Hà Nội sẽ không dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ đơn thuần, mà tiến tới xây dựng một hệ sinh thái giáo dục số đồng bộ. Nâng tầm giáo dục mũi nhọn và thúc đẩy chuẩn mực giáo dục toàn diện, ngành quyết tâm thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa các khu vực, đồng thời đẩy mạnh giáo dục STEM/STEAM, Robotics và đặc biệt là nâng cao vị thế của tiếng Anh để học sinh Thủ đô tự tin hội nhập toàn cầu", ông Hiền khẳng định.

Chuyển đổi số trong giáo dục mang lại giá trị khác nhau cho từng nhóm đối tượng, nhưng điểm chung là đều hướng tới nâng cao chất lượng dạy và học, tăng hiệu quả vận hành và tạo ra môi trường giáo dục linh hoạt, hiện đại. Không chỉ tạo nền tảng để nâng cao chất lượng và tính công bằng của hệ thống giáo dục, việc kết nối và phân tích dữ liệu giáo dục sẽ giúp cơ quan quản lý có cơ sở để xây dựng chính sách phù hợp với thực tiễn, phân bổ nguồn lực hiệu quả và thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các khu vực, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy sự phát triển bền vững của giáo dục trong kỷ nguyên số.

Nguyễn Cúc/TTXVN

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm