SEA Games 33 khép lại với một nghịch lý khó chấp nhận: trong khi 2 đội nam của cầu mây thắng Thái Lan và sau đó giành 1 HCV lịch sử, thì cầu lông Việt Nam tiếp tục chìm trong thất vọng. Vẫn chỉ là 1 chiếc HCĐ, cứ như thể đó là "định mệnh" kể từ chiếc HCĐ đầu tiên ở nội dung đồng đội nữ tại SEA Games 1999 đến nay.
Sẽ có rất nhiều nguyên nhân để nói về việc cầu lông Việt Nam không thể vượt qua được các giới hạn. Giới quan sát cũng đặt vấn đề nhiều lần và gần như không có giải pháp tổng thể nào được đưa ra. Điều dễ dàng nhất là chúng ta mặc định cầu lông vốn dĩ đã chìm trong sự thống trị của Indonesia hay Thái Lan, Malaysia, nên dù chúng ta có phát triển đến đâu thì tại Đông Nam Á cũng chỉ là kẻ ngoài cuộc.
Thực tế thì sao? SEA Games 1991 là lần đầu tiên cầu lông Việt Nam góp mặt, với tay vợt thuộc thế hệ VĐV chuyên nghiệp đầu tiên Nguyễn Anh Hoàng. Đó cũng là giai đoạn thống trị gần như tuyệt đối của cầu lông Indonesia, tương tự như cách mà cầu mây Thái Lan đã làm trong hơn 20 năm qua.
Nhưng chỉ khoảng một thập niên sau, mọi thứ dần thay đổi. Indonesia vẫn mạnh nhưng Thái Lan và Malaysia đã vượt lên để cạnh tranh từng chiếc HCV. Cuộc đua tam mã ấy vẫn duy trì cho đến tận bây giờ, trên cả phương diện SEA Games lẫn thế giới.
Về cơ bản, cầu lông tại SEA Games từ đó đến nay là cuộc chơi riêng của nhóm 5 quốc gia: Ngoài tốp 3 kể trên, còn lại là Singapore và Việt Nam. Dù hiếm khi có cơ hội đánh chung kết, nhưng vấn đề là Singapore có sự thay đổi nhất định về thành tích ở từng kỳ SEA Games. Họ luôn có huy chương từ SEA Games 1983 đến nay dù đa số cũng chỉ là HCĐ, trong khi cầu lông Việt Nam có 2 kỳ trắng tay (2011, 2019).
Có thể nói là xuất phát điểm của Singapore cũng như Việt Nam, tức là luôn bị lép vế trước Big 3, nhưng biểu đồ phát triển của họ vẫn có dao động mạnh dù nguồn nhân lực không bằng Việt Nam.

Cầu lông Việt Nam đang có khoảng trống thế hệ rất lớn khi Thuỳ Linh dần không còn ở đỉnh cao sự nghiệp. Ảnh: Hoàng Linh
Trong khi đó, cầu lông được xem là môn thế mạnh của Đông Nam Á, triển vọng phát triển đẳng cấp thế giới gần như được bảo đảm do các lợi thế riêng về thể hình. Ngay Singapore, họ cũng có nhà vô địch thế giới Loh Kean Yew, dù là gốc Malaysia nhưng sang Singapore sinh sống từ năm 13 tuổi.
Thế nên mới nói, biểu đồ đi ngang của cầu lông Việt Nam là một nghịch lý. Nghịch lý đầu tiên: Tại sao cũng ở một thách thức tương tự nhưng cầu mây lại bền bỉ tìm cách vượt lên và đến nay, cả nam lẫn nữ đều khuất phục được Thái Lan trên đấu trường thế giới và SEA Games chỉ trong năm 2025. Đây cũng là môn có đặc thù Đông Nam Á, nên cầu mây làm được điều đó thì không phải là bất ngờ.
Nghịch lý kế tiếp: Cầu lông là môn thể thao đô thị, và điều này cũng thể hiện rõ qua nhóm 5 quốc gia đứng đầu cầu lông cũng là những nền kinh tế lớn của khu vực. Cầu lông rất phổ biến tại Việt Nam, bằng chứng là chúng ta có VĐV góp mặt ngay từ những SEA Games đầu tiên.
Thế nhưng, cầu lông đang dần mất sức hút, ngay tại sân nhà. Những năm gần đây, sự trỗi dậy của pickleball, một môn thể thao giao thoa giữa quần vợt, cầu lông và bóng bàn, đang tạo nên làn sóng mới tại các đô thị Việt Nam.
Pickleball dễ tiếp cận, không cần không gian lớn, có thể chơi ở công viên, sân cộng đồng, và nhanh chóng tạo cảm giác thành công cho người chơi.
Điều đó cho thấy cầu lông đang dần mất vị thế "môn thể thao phổ thông hiện đại" mà nó từng nắm giữ. Thế nên, câu chuyện ở đây không phải vì chúng ta thiếu cơ sở để hy vọng mà là gần như không có chiến lược gì cho một môn thi đấu mà chỉ trong chu kỳ 10 năm vẫn kịp sản sinh ra Nguyễn Tiến Minh và Nguyễn Thùy Linh.
Khi thế giới chuyển sang những mô hình thể thao mang tính "lifestyle", gắn với phong cách sống và cộng đồng, thì cầu lông Việt Nam vẫn vận hành như một bộ môn thi đấu thuần túy, xa rời công chúng.
Không có chiến dịch quảng bá, không có giải phong trào hấp dẫn, không có gắn kết với đời sống đô thị. Từ một môn từng đại diện cho sức trẻ, cầu lông đang dần bị xem là "một trò chơi cũ kỹ".