Tất nhiên, sự thành công của Air Supply còn nhờ những nghệ thuật hòa âm của mình và điều này, dựa trên các nhạc cụ, chính là trường tồn. Khi mà Bee Gees chuyển sang disco vào nửa sau thập niên 1970, thì Air Supply mới ra đời. Đó là thời điểm mà các synthesizer với vô vàn âm thanh “điện tử” cùng dàn trống điện tử lật đổ bộ ba guitar cùng dàn trống truyền thống của nhạc rock 60’s. Air Supply lấy keyboard điện tử làm nền cho phối khí, trong khi Bee Gees khởi đầu với guitar, nên Air Supply sau này không phải tốn công “tự chuyển thể” như Bee Gees. Cũng nhờ keyboard điện tử mà nhạc của Air Supply càng thêm “ngọt” với tiếng đàn “gọi là piano” và các tầng âm thanh “gọi là dàn dây” du dương, tràn đầy và cả những “âm thanh vũ trụ” (spatial sound) réo rắt của keyboard. Tất cả những nhạc cụ điện tử đó góp phần làm cho tiếng hát vốn đã ngọt ngào của Russell Charles Hitchcock trở thành ngọt lịm. Tất nhiên, tiếng đàn lead ngọt ngào của Graham Russell cũng có phần xứng đáng trong đó. Cũng như không phải cứ đàn điện tử là có thể mê hoặc được người nghe. Những tầng nhạc cụ trong Chances hay Two Less Lonely People In The World, những tầng cao độ lần lượt của giọng hát trong Making Love Out Of Nothing... tạo thành sự khác biệt của Air Supply với các ban nhạc khác. Khác biệt của bậc thượng thừa với hàng hậu duệ, thể hiện qua số đĩa nhạc và lượng fan trung thành.

Thành ra, câu hỏi “Air Supply có còn tồn tại hay không?”, trong khuôn khổ của khái niệm “Tôi cao vút, tôi ngọt lịm, tôi tồn tại”, sẽ có câu trả lời vào hai đêm cuối tuần này. 12 năm trước, cũng tại Việt Nam, câu trả lời hầu như đã có. Thậm chí ngay từ năm 1995, khi nghe Air Supply chơi lại Unchained Melody trong vòng lưu diễn châu Á ở Singapore đã có thể đo được bằng tai thang âm của thanh quản Russell Charles Hitchcock rồi.
Còn nếu đặt ra câu hỏi “Air Supply có còn tồn tại hay không?” trong khuôn khổ toàn cảnh âm nhạc của họ, thì có thể lấy sự kiện ngày 7/7/2005, Air Supply vẫn thu hút tới 175.000 người Cuba đến nghe họ hát cho dù cơn bão Dennis sắp đổ bộ vào nước này làm câu trả lời. Hùm để da, chứ cáo nào được phước đó!
HÃY GIỮ LẤY KỶ NIỆM
“Ô temps! Suspends ton vol” (Thời gian hỡi, hãy dừng trôi bay) - nhà thơ Lamartine đã than như thế trong Le Lac của mình từ đầu thế kỷ 19.
|
Lac! rochers muets! grottes! forêt obscure! |
Khi viết những dòng chữ này, tôi vừa qua một buổi tối ngọt ngào với ca sĩ thượng thặng Pháp Francis Cabrel ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Ở tuổi 56, Francis Cabrel không còn “trong vắt” như ngày trẻ. Song, khoảng chừng 85%, 90%, và anh vẫn là anh. Vì những ca từ quá đẹp của anh.
Air Supply cũng thế. Các ca khúc họ trình bày vẫn là bất tử. Họ không hát những sáo ngữ, chứ đừng nói là những “rẻ tiền”. Có gì thật trong mô tả tình yêu cho bằng:
|
I’m lying alone with my head on the phone ![]() |
|
I’m not easy to understand |
Cho dù trong thực tế, đó hầu như là điều bất khả:
|
Here I am |
Một ca sĩ, một ban nhạc “sống” mãi cho dù tuổi có mòn, nhờ vào những ca khúc họ chọn trình bày là như thế nào. Victor Hugo đã định nghĩa vai trò của thi nhân trong La Fonction Du Poète (Chức năng của nhà thơ) trong xã hội mình sống.
|
Il rayonne! il jette sa flamme |
Thơ văn không chỉ tải đạo lý mà còn tái tạo đạo lý. Trong ý nghĩa đó, để đời nhất của Air Supply chính là khi họ vượt lên hẳn, với album The Vanishing Race năm 1993 , viết cho người da đỏ đang “tuyệt chủng” ở Bắc Mỹ. Từ tình yêu đôi lứa, vươn đến tình yêu tha nhân. TÌNH YÊU viết hoa.
Album The Vanishing Race nhắc nhớ không chỉ có “tiếng chày trên sóc Bom Bo”.
Âm nhạc nâng tâm hồn lên.
Tối 9 & 10/10/2009, lúc 20h30, ban nhạc Air Supply đã biểu diễn tại nhà hát Hòa Bình, TP.HCM. Hai buổi diễn nằm trong khuôn khổ chuyến du diễn xuyên châu Á của ban nhạc này. Air Supply sẽ trình bày hầu hết những bài hát đã làm nên tên tuổi của mình như Even the nights are better, Give me love, Just as I am, Power of love, The river cried, All out of love, Every woman in the world, Goodbye, Lost in love, Sweet dreams, You’re my best friend... |
