Văn hoá

150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Nhà chí sĩ trọn đời vì nước, vì dân

27/09/2026 06:47 GMT+7 Google News

Cụ Huỳnh Thúc Kháng ((1/10/1876-1/10/2026) là một chí sĩ yêu nước, nhà hoạt động chính trị, nhà báo và nhà lãnh đạo có uy tín, cụ đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Từ phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX đến những năm tháng hoạt động cách mạng, cụ luôn thể hiện khí tiết, tinh thần yêu nước và trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc.

* Những cống hiến của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong phong trào Duy Tân

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, tên gọi lúc nhỏ là Huỳnh Văn Thước, sau đi học gọi là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng).

150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Nhà chí sĩ trọn đời vì nước, vì dân - Ảnh 1.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Vốn nổi tiếng thông minh, học giỏi, ham hiểu biết, sớm có chí hướng và đạt thành tích cao trong các kỳ thi. Năm 1900, Cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương và từ đây lấy tên gọi là Huỳnh Thúc Kháng; năm 1904, đỗ Tiến sĩ.

Sau khi đỗ Tiến sĩ năm 1904, cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà cùng các sĩ phu yêu nước Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp tích cực tham gia phong trào Duy Tân. Cụ sớm trở thành một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào yêu nước và canh tân ở Trung Kỳ, chủ trương cứu nước bằng khai dân trí, chấn dân khí, phát triển dân sinh; đồng thời đề cao tư tưởng dân quyền, thúc đẩy cải cách giáo dục, phát triển kinh tế và đổi mới xã hội.

Trong hoạt động Duy Tân, cụ Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng việc nâng cao nhận thức của Nhân dân. Cụ tích cực tuyên truyền, diễn thuyết ở nhiều nơi, vận động Nhân dân từ bỏ lối học khoa cử, chú trọng thực học, học chữ Quốc ngữ, tiếp thu tư tưởng tiến bộ và mở mang tri thức. Cụ cùng các sĩ phu tiến bộ vận động mở trường tân học, khuyến khích học tập, phát triển thương nghiệp, lập thương hội, cổ vũ sản xuất và thực nghiệp. Qua đó, một phong trào cải cách xã hội từng bước hình thành và lan rộng ở Quảng Nam và các tỉnh Trung Kỳ.

Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng, khai trí phải gắn với chấn hưng kinh tế và cải thiện đời sống Nhân dân. Cụ tích cực giao lưu, bàn bạc với những người cùng chí hướng, trong đó có Phan Bội Châu và Nguyễn Thành, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các tổ chức, cơ sở Duy tân ở Quảng Nam. Trong các hoạt động tuyên truyền, cụ tập trung vào những vấn đề thiết thực: khai trí, phát triển kinh tế, thực hành tiết kiệm, cải tiến đời sống, đề cao thực học và tiếp thu văn hóa, tri thức phương Tây. Hoạt động của cụ có ảnh hưởng sâu rộng, góp phần đưa tư tưởng duy tân từ phạm vi một bộ phận sĩ phu tiến bộ trở thành một phong trào xã hội có sức lan tỏa.

150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1/10/1876-1/10/2026): Nhà chí sĩ trọn đời vì nước, vì dân - Ảnh 1.

Du khách tham quan không gian nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạch Bình, thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Trần Tĩnh - TTXVN

Năm 1905, cụ cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp có những hoạt động sôi nổi tại trường thi Bình Định, thể hiện rõ thái độ phản đối lối học từ chương, đề cao thực học và tinh thần canh tân. Những hoạt động này tạo nên nét nổi bật của phong trào Duy Tân ở Quảng Nam, trong đó cụ là một trong những người tổ chức, tuyên truyền và thúc đẩy quan trọng.

Năm 1908, phong trào Duy Tân và phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp mạnh mẽ. Ngày 24/2/1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt và giải về nhà lao Hội An. Dù bị giam cầm, tra hỏi, cụ vẫn giữ vững khí tiết. Tháng 6/1908, cụ bị kết án đày ra Côn Đảo; đến tháng 9/1908, Cụ bị đưa ra đảo, bắt đầu 13 năm lưu đày.

Trong 13 năm bị giam cầm tại Côn Đảo (1908-1921), dù bị tước đoạt tự do và chịu lao động khổ sai, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn duy trì tinh thần học tập, trao đổi tư tưởng và hoạt động cùng các tù nhân chính trị. Cụ cùng các chí sĩ tổ chức ngâm thơ, xướng họa, bàn luận thời cuộc, giúp các tù nhân giữ vững tinh thần, củng cố tình đoàn kết và nuôi dưỡng ý chí đấu tranh. Cụ tích cực tự học tiếng Pháp, nghiên cứu sách báo, tìm hiểu tình hình thế giới, đồng thời sáng tác văn thơ thể hiện lòng yêu nước. Cùng Phan Châu Trinh và Phan Thúc Duyện, Cụ tham gia viết tuồng Trưng Vương, thể hiện tư tưởng yêu nước và khát vọng bình quyền.

Tháng 2/1921, sau 13 năm lưu đày, Cụ được trả tự do, khép lại một chặng đường gian khổ nhưng làm nổi bật bản lĩnh, tư tưởng canh tân và tinh thần yêu nước không khuất phục.

* Những đóng góp trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm báo Tiếng Dân 

Trở về quê hương năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục hoạt động yêu nước bằng những hình thức phù hợp với hoàn cảnh mới. Trong giai đoạn 1921-1943, trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm, chủ bút báo Tiếng Dân, cụ tích cực đấu tranh đòi dân quyền, dân sinh, cải cách chính trị và bảo vệ lợi ích dân tộc.

Cụ sử dụng nghị trường làm diễn đàn công khai nêu ý kiến của Nhân dân, yêu cầu chính quyền thực dân thay đổi chính sách cai trị. Cụ và các dân biểu tiến bộ đề xuất ban hành hiến pháp, mở rộng quyền tự do dân chủ, phân định quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, mở rộng quyền hạn của Viện Dân biểu, trao quyền bầu cử cho người đóng thuế. Dù nằm trong khuôn khổ chế độ bảo hộ, những đề xuất ấy cho thấy rõ yêu cầu cải tổ cơ cấu cai trị và mở rộng quyền tham gia chính trị của người dân. Nhận rõ giới hạn của Viện Dân biểu và sự can thiệp của chính quyền thực dân, Cụ kiên quyết từ chức năm 1928.

150 năm Ngày sinh Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1/10/1876-1/10/2026): Nhà chí sĩ trọn đời vì nước, vì dân - Ảnh 2.

Khách tham quan không gian nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạch Bình, thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Trần Tĩnh - TTXVN

Cùng với hoạt động nghị trường, cụ Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng hoạt động báo chí. Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên do Cụ làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tờ báo tồn tại liên tục 16 năm (1927-1943) với 1.766 số, giữ tiếng nói độc lập và tôn chỉ cải cách, không xu phụ nhà cầm quyền. Báo phản ánh những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, nhất là tình trạng áp bức, bóc lột, thuế khóa và bất công. Cụ yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh; những vấn đề đã kiểm chứng thì dù chịu sức ép vẫn kiên quyết đăng.

Năm 1933, khi thực dân Pháp lập nhà đày Buôn Ma Thuột, Tiếng Dân đã đăng các bài viết do tù chính trị bí mật gửi ra để tố cáo chế độ tù đày. Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936-1939, báo tiếp tục cổ vũ các yêu cầu về dân sinh, dân chủ, đăng bài của nhà báo Pháp A. Viôlít phê phán chế độ cai trị áp bức. Ngày 14/9/1936, Cụ công bố thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ và bản thỉnh cầu tháng 9/1936, đưa Tiếng Dân trở thành diễn đàn quan trọng của phong trào vận động dân chủ.

Từ tháng 7/1938, trước tranh chấp Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật, Tiếng Dân đăng loạt bài của Sử Bình Tử (tức cụ Huỳnh Thúc Kháng) khẳng định Hoàng Sa thuộc nước Nam. Cụ viện dẫn các tư liệu lịch sử về Đội Hoàng Sa, hoạt động khai thác sản vật của người Việt và đặc biệt là "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn. Việc đưa vấn đề Hoàng Sa lên báo thể hiện rõ ý thức bảo vệ chủ quyền và trách nhiệm đối với lãnh thổ quốc gia.

Năm 1939, cụ xuất bản Thi tù tùng thoại, tập hợp thơ và ghi chép bằng chữ Hán thời gian ở Côn Đảo, chứa nhiều tư liệu lịch sử có giá trị về các phong trào Đông Du, Duy Tân.

Báo Tiếng Dân chịu chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt của Phủ Khâm sứ Trung Kỳ. Có những bài biết chắc sẽ bị cắt nhưng cụ vẫn đưa kiểm duyệt; phần bị cắt được để trống trên mặt báo để độc giả nhận biết sự can thiệp của nhà cầm quyền, quyết không biến sự kiểm duyệt của chính quyền thành sự tự kiểm duyệt của người làm báo. Ngày 24/4/1943, lo ngại trước ảnh hưởng của báo, thực dân Pháp đã đình bản Tiếng Dân. Cụ Huỳnh Thúc Kháng viết bài thơ Tiếng Dân bị đình bản ngày 24/4/1943 để ghi lại sự kiện này.

Từ nghị trường đến báo chí, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhất quán theo đuổi mục tiêu bảo vệ quyền lợi Nhân dân, đấu tranh cho dân quyền, dân sinh và cải cách xã hội, khẳng định bản lĩnh của một chí sĩ yêu nước và nhà báo kiên định.

* Những đóng góp của cụ trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Quyền Chủ tịch nước

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cụ trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 2/3/1946, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ và đánh giá cụ là “một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”. Sự tham gia của cụ - một chí sĩ lão thành không phải đảng viên cộng sản - thể hiện sâu sắc chính sách đại đoàn kết dân tộc và trọng dụng nhân tài của Chính phủ cách mạng.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Cụ phụ trách củng cố chính quyền, xây dựng bộ máy hành chính, công vụ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự trị an. Ngày 22/3/1946, Cụ đề nghị cử ông Hoàng Minh Giám làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ và ông Phạm Khắc Hòe làm Đổng lý Văn phòng Bộ để kiện toàn bộ máy. Cụ cũng tham gia các nhiệm vụ đối ngoại quan trọng như Ủy ban nghiên cứu đặc biệt phục vụ Hội Hội nghị Fontainebleau. Với uy tín của mình, Cụ còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao tiếp xúc với các vị khách nước ngoài, trong đó có các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc, góp phần nâng cao vị htế của Chính phủ Việt Nma Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) thành lập, cụ được bầu làm Hội trưởng, góp phần tập hợp rộng rãi nhân sĩ, trí thức, các tầng lớp xã hội, tôn giáo cùng tham gia kháng chiến, kiến quốc.

Đặc biệt, ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82/SL ủy nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng điều hành công việc Chính phủ. Trước khi sang Pháp đàm phán, Bác Hồ nói rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Từ ngày 31/5 đến 21/10/1946, trên cương vị Quyền Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã bình tĩnh, khôn khéo chèo lái con thuyền cách mạng. Cụ kiên quyết trừng trị các thế lực phản động (như vụ án phố Ôn Như Hầu), giữ vững trật tự an ninh, bảo vệ chính quyền non trẻ. Trở về sau chuyến đi Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao sự lãnh đạo sáng suốt của Quyền Chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng trong việc giải quyết nhiều việc khó khăn của đất nước.

Cuối năm 1946, khi nguy cơ chiến tranh toàn quốc cận kề, Bộ Nội vụ tích cực chuẩn bị phương án di chuyển, tản cư các cơ quan Trung ương. Trong hoàn cảnh ấy, dù tuổi cao sức yếu, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn hăng hái nhận nhiệm vụ thay mặt Chính phủ đi kinh lý miền Trung, vào Quảng Ngãi động viên đồng bào, chiến sĩ kháng chiến.

Trong chuyến đi, cụ lâm bệnh nặng. Trước lúc qua đời, Cụ gửi điện văn tạ từ Chủ tịch Hồ Chí Minh và kêu gọi các đảng phái, tôn giáo, đồng bào đoàn kết chung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh để cứu nước. Ngày 21/4/1947, cụ qua đời tại Quảng Ngãi.

Những tác phẩm cuối đời như "Thư kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến" và "Chào vĩnh quyết" cho thấy sự nhất quán tư tưởng của Cụ. Tinh thần “đồng tâm nhất trí”, không phân biệt giai tầng, đảng phái để bảo vệ Tổ quốc chính là sự phát triển cao nhất của tư tưởng đại đoàn kết mà cụ theo đuổi suốt đời. Cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại bài học sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức: yêu nước phải gắn với hành động, thương dân phải thể hiện bằng việc làm và luôn đặt lợi ích chung của dân tộc lên trên hết. Đó là những giá trị làm nên nhân cách và sức sống lâu bền của một chí sĩ đã trọn đời vì nước, vì dân.

Thanh Phương (tổng hợp) / TTXVN

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm