Thế giới

XDCB vốn nhà nước: vi phạm, chậm tiến độ càng ngày càng tăng

23/09/2008 13:08 GMT+7 Google News
(TT&VH) - Ngày 22/9, tại phiên họp thứ 12 về giám sát đầu tư XDCB và sử dụng vốn Nhà nước năm 2005 – 2007, Đoàn giám sát của UB Thường vụ Quốc hội cho biết: năm 2005 có 1.882 dự án vi phạm, chiếm 14,5% dự án thực hiện đầu tư trong năm; năm 2006 có 3.173 dự án vi phạm, chiếm 18,19%; năm 2007 có 4.763 dự án, chiếm 16,6%.


Sơ đồ quy hoạch ĐH QG TP.HCM (ảnh mang tính chất minh họa)

Mỗi năm chậm giải ngân 50 – 70.000 tỷ đồng: điều dễ hiểu!

 “Số lượng, tỷ lệ các dự án có vi phạm các quy định về quản lý đầu tư (không phù hợp quy hoạch, phê duyệt không đúng thẩm quyền, không thực hiện đầy đủ trình tự thẩm tra, thẩm định dự án, đấu thầu không đúng quy định, chậm tiến độ, chất lượng xây dựng thấp, lãng phí) có xu hướng tăng lên” – Đoàn giám sát nhận định.

237.447 tỷ đồng vốn NSNN đã được đầu tư cho XDCB. Việc sử dụng nguồn vốn lớn này qua giám sát, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém làm giảm hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng tới quá trình phát triển KTXH. Kết cấu hạ tầng như đường giao thông, cảng biển, bệnh viện tại các thành phố lớn… vẫn quá tải.

“Tiến độ thi công các dự án sử dụng vốn nhà nước rất chậm, thủ tục đầu tư xây dựng rườm rà, hiệu quả đầu tư của nhiều dự án thấp, còn thất thoát, lãng phí so với đầu tư bằng nguồn vồn khác, đầu tư thiếu đồng bộ. Tình trạng bố trí vốn dàn trải vẫn còn khá phổ biến”, Chủ nhiệm UBKT Hà Văn Hiền – trưởng đoàn giám sát nói. Năm 2005 có 2.280 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,2% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong năm (trong đó có 48 dự án nhóm A). Con số này tăng nhanh trong 2 năm tiếp theo, năm 2006 có 3.595 dự án chậm tiến độ, chiếm 13,1% (25 dự án nhóm A); 3.979 dự án chậm tiến độ trong năm 2007, chiếm 13,9% (19 dự án nhóm A).

Nhiều dự án quy mô lớn đã được lên “bảng phong thần” như công trình giảng đường ĐHQG TP.HCM hoàn thành từ tháng 2-2006 nhưng 2007 vẫn chưa đưa vào sử dụng; nhà máy xử lý nước thải khu đô thị Bắc Thăng Long – Vân Trì trị giá hơn 65 tỷ đồng và 1.255 triệu Yên hoàn thành bàn giao từ tháng 10-2005 nhưng vẫn chưa thể vận hành do chưa được cung cấp nguồn điện (TT&VH đã có bài phản ánh). Ngoài ra, nhà máy cấp nước giai đoạn I khu đô thị này mới đạt 22,32% công suất, làm chậm phát huy hiệu quả và lãng phí vốn đầu tư. Tình trạng thiếu điện, cắt điện kéo dài trong nhiều năm nhưng việc thi công của hàng chục dự án nhà máy điện của Tập đoàn điện lực VN bị chậm tiến độ, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế và cuộc sống người dân. Dự án cầu Thanh Trì và tuyến phía nam vành đai 3 Hà Nội, với tổng vốn đầu tư 7.660 tỷ đồng, do chậm trễ nhiều tháng, tính toán sơ bộ mỗi ngày chậm phải trả 1,5 tỷ đồng lãi vay. Cầu xây xong nhưng đến nay, 2 đường dẫn lên cầu chưa hoàn thành nên phải tốn thêm chục tỷ đồng để làm đường tạm thông xe ngày 2/2/2007.

“Công trình nhóm A từ khi xin chủ trương tới khi thi công mất tới 4 năm. Thêm 5-7 năm thi công nữa là phải mất hơn 10 năm mới đi vào hoạt động. Chỉ tính riêng dự án nhóm C, cả nước có 13.000 dự án sử dụng vốn ngân sách, mỗi dự án mất 2 năm thủ tục thì thử tính xem lãng phí bao nhiều thời gian, hiệu quả đồng vốn ở đâu?” -  Chủ nhiệm UB Tài chính ngân sách Phùng Quốc Hiển chất vấn. Theo ông, thủ tục rườm rà nên mỗi năm chậm giải ngân 50 – 70.000 tỷ đồng là điều dễ hiểu.

Tại sao không vận dụng “chìa khóa trao tay”?

Theo giám sát, nhiều chủ đầu tư, BQL dự án năng lực hạn chế, thiếu chuyên môn về quản lý XDCB (nhất là trong lĩnh vực y tế giáo dục), UBND các cấp huyện, xã thiếu bộ máy và cán bộ. Theo quy định, chủ đầu tư dự án là đơn vị quản lý và sử dụng công trình nhưng thực tế có trường hợp phải phân công chủ đầu tư khác với quy định. Ví dụ, TP.HCM không giao Sở GD-ĐT hoặc các trường mà giao UBND cấp quận, huyện làm chủ đầu tư dự án xây dựng trường học.

Tổng số nợ XDCB nguồn NSNN các công trình đã hoàn thành do địa phương quản lý tính đến tháng 6-2008 là 3.860,39 tỷ đồng.

ĐHQG TP.HCM nói rằng trường ĐH không muốn làm chủ đầu tư mà đề nghị áp dụng hình thức “chìa khóa trao tay”. Còn ĐHQG Hà Nội và các ĐH thành viên tuy phải làm chủ đầu tư nhưng cũng nhận thấy do năng lực quản lý hạn chế nên tiến độ thực hiện dự án rất chậm. Lãnh đạo ngành y tế ở địa phương nơi Đoàn giám sát làm việc cũng đề nghị không nên giao cho Sở Y tế làm chủ đầu tư vì không có chuyên môn về XDCB, dễ vi phạm các quy định của pháp luật. “Ngành y tế, giáo dục không có nhiều kinh nghiệm trong đầu tư XDCB trong khi sắp tới được giao mỗi năm 4.000 – 5.000 tỷ đồng, nếu không giải quyết theo kiểu chìa khóa trao tay thì có đảm bảo chất lượng đầu tư không?” – Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai chia sẻ.

“Tại sao không vận dụng chìa khóa trao tay để hiệu quả cao hơn?” – Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu nhất trí. Theo ông, việc áp dụng cơ chế này đối với các bộ ngành không có chuyên môn trong lĩnh vực XDCB để tránh thất thoát, lãng phí. Ông cho biết Chính phủ đã đề xuất sửa hàng loạt dự án Luật để giảm mâu thuẫn, chồng chéo, “ngáng đường” đầu tư XDCB. Những vấn đề này phải được sửa ngay nên Chính phủ cần sớm đề nghị đưa vào chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội.

Thế Vinh

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm