Văn hoá

Viên đạn nhỏ 'khỏi nòng chỉ biết có xung phong'

15/11/2021 20:00 GMT+7 Google News

(Thethaovanhoa.vn) - Lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) Hà Nội được tổ chức từ 8h30 đến 10h30, Chủ nhật 14/11/2021 với hình thức trực tuyến.

40 năm thành lập Trường Viết văn Nguyễn Du: Dạy viết văn là... nghề nguy hiểm!

40 năm thành lập Trường Viết văn Nguyễn Du: Dạy viết văn là... nghề nguy hiểm!

(LTS) Ngày 16/11 tới, Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Trường Viết văn Nguyễn Du - Khoa Viết văn, Báo chí (1979 - 2019) sẽ diễn ra tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Trước đó, ngày 15/11 sẽ khai mạc các gian trưng bày của sinh viên và đêm Gala "Trang sách, trang đời".

Trong quá trình đào tạo của khoa, mỗi niên khóa gắn với một thời điểm lịch sử nhất định: Giải phóng Thủ đô 1954, đất nước bị chia cắt, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, trận Điện Biên Phủ trên không 1972… Lịch sử 70 năm bảo vệ và phát triển đất nước có dấu ấn sắc nét trong mỗi khóa đào tạo của Khoa Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội.

Dưới đây là câu chuyện của những người trưởng thành từ K17, khóa đào tạo 1967-1970.

Một khóa học mà lễ khai giảng có bắn súng

Là sinh viên văn khoa, nhưng trong giấy báo nhập học, nhà trường không nhắc mang giấy bút, chỉ nhắc mỗi sinh viên mang theo một con dao rựa.

Với con dao “được nhập học” kia, chúng tôi hạ tre dựng các lớp học âm dưới đất, có giao thông hào dẫn tới các hầm chữ A, tránh Mỹ dội bom. Thứ hầm “phỏng sinh” con chữ bắt đầu bảng chữ cái tiếng Việt. Chúng tôi học đại học với thứ chữ A ấy, thứ “chữ-cái-cửa-hầm” to hơn khổ giấy “A0” bây giờ, to tới mức sức dài vai rộng sinh viên cũng chui lọt! Và chúng tôi bước qua chiến tranh từ khung cửa hầm này mà trưởng thành!

Chú thích ảnh
Các sinh viên Khoa Ngữ văn K17, ĐHSP Hà Nội với các vai diễn trong “Truyện Kiều” và “Hamlet”

Tôi nhớ rất rõ, nhớ đến từng cọng rơm vương vãi trên sân kho Hợp tác xã nông nghiệp Trung Đạo giữa cánh đồng tam thiên mẫu thuộc tỉnh Hưng Yên. Đó là nơi sinh viên Khoa Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội chúng tôi làm lễ khai giảng năm học 1968 - 1969, một lễ khai giảng sang trọng nhất trong đời tôi, khai giảng có bắn súng. Tiếng súng vút lên từ hàng quân danh dự của đội sinh viên tự vệ, đánh thức một ngày vệ quốc thời chiến tranh chống Mỹ, tiếng súng vang xa hơn theo lời thơ ứng tác của thầy chủ nhiệm khoa Lê Trí Viễn:

“Khai giảng năm nay có bắn súng

Tiếng súng nôn nao cả tấm lòng

Xin hứa: quyết làm viên đạn nhỏ

Khỏi nòng chỉ biết có xung phong”

Cùng giữ lời hứa với thầy, những sinh viên khoa văn sư phạm những năm chiến tranh ấy đã xung phong theo nghĩa đẹp nhất của từ này. Từ cổng Trường ĐHSP Hà Nội, theo bước những sinh viên đàn anh, các cử nhân văn khoa Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Vương Trí Nhàn, Tô Hoàng, Lâm Quang Ngọc, Bùi Công Minh… nhiều bạn K17 chúng tôi nhập ngũ từ bục giảng của mình trong năm tổng động viên 1972. Những thầy giáo K17 nhập ngũ - Phạm Đăng Hiệu - từng là Đại tá Bộ Tổng tham mưu; Nguyễn Văn Thống từng là Đại tá Chủ nhiệm bộ môn, Học viện Kỹ thuật Quân sự; Lê Văn Trao từng là Đại tá Chủ nhiệm khoa, Trường Sĩ quan Lục quân số I…

Những cử nhân văn chương của một khóa học có bắn súng thành những chiến binh, chiến đấu thật sự và có người đã hi sinh, nhưng họ còn là văn nhân - chính những người này đã theo tinh thần “thi lệnh” của thầy chủ nhiệm khoa, biến những ngày tháng khốc liệt nhất, hào hùng nhất của dân tộc ta, thành văn, thành thơ.

Cùng gắn bó và san sẻ để trưởng thành

Chúng tôi có niềm vui được dạy sử thi của những người bạn đồng môn, được dạy: “Em ơi em đất nước là máu xương của mình/ Phải biết gắn bó san sẻ/ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên đất nước muôn đời”...(Nguyễn Khoa Điềm). Chúng tôi đã “gắn bó và san sẻ” để có trong đội ngũ K17 những nhà giáo ưu tú.

Nhà giáo ưu tú Đặng Đình Đại đã nhận Huân chương Lao động của nhà nước, đã nghi hưu hưởng nhàn cùng cháu con, nhưng nếu hôm nay, lên mạng Facebook, vào trang “Hội những người ái mộ thầy Đặng Đình Đại” với cả nghìn người theo dõi vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh trẻ trung của thầy Đại khi còn là Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội; Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Tư thục Vạn Xuân - Long Biên; Phó trưởng ban đào tạo phụ trách khối trung học cơ sở và trung học phổ thông trường Quốc tế Wellspring rộng 8ha và hiện đại bậc nhất Hà Nội.

Chú thích ảnh
Các sinh viên Khoa Ngữ văn K17, ĐHSP Hà Nội trong dàn hợp xướng "Du kích sông Thao" của Đỗ Nhuận

Thầy Đại nhớ lại:“Năm 1967 là năm không tổ chức kỳ thi tuyển đại học vì đang chiến tranh. Nhưng trong tiêu chí để chọn vào đại học có mục lý lịch gia đình. Gia đình tôi là gia đình viên chức thời Pháp, lại có 2 anh đang ở miền Nam, một anh ở Pháp cho nên rất khó được xét (4 anh chị và 2 em tôi đều không được vào đại học). Nhưng, tôi rất biết ơn các thầy giáo, cô giáo Trường cấp III Nguyễn Gia Thiều, đặc biệt là thầy Nguyễn Đức Thuần, Hiệu trưởng - Trưởng ban tuyển sinh đại học của trường - đã vượt qua rào cản rất lớn của thời đó để giới thiệu tôi đi học đại học, vì lẽ tôi là trò ngoan, hát hay, thường được chọn đi dự những buổi Bác Hồ tiếp đón nguyên thủ các nước tại Phủ Chủ tịch.

Tốt nghiệp, tôi lên Cao Bằng dạy học ở huyện Hà Quảng, sát biên giới. Tháng 5/1972 mới quen đứng lớp thì có giấy gọi nhập ngũ gửi về trường. Nhưng lần đi lính ấy cũng không đắt, sát ngày đầu quân tôi nhân được điện khẩn của Chủ tịch tỉnh Cao Bằng: “Tạmhoãn nhập ngũ. Lên trường dạy học ngay”! Lại tiếp tục đánh giặc dốtở Cao Bằng.

Rồi về Hà Nội 1977. Ngày ấy vợ chồng cùng làm bánh gia công, đưa lên Hàng Buồm, chợ Đồng Xuân - Bắc Qua. Sáng sớm tôi đạp xe đèo hàng ngàn gói bánh kẹo lên các quầy rồi mới đi dạy học. Buổi chiều hì hục đóng gói để sẩm tối lại đèo hàng lên chợ, thu tiền, mua nguyên vật liệu...”.

Không chỉ biết làm bánh kẹo, các thầy K17 chúng tôi còn giỏi…đóng gạch, đan mành, chằm nón! Đấy là tài của anh lớp trưởng lớp “Ba sẵn sàng” Trần Ngọc Tăng.

Anh kể:“Sau tốt nghiệp tôi lần lượt dạy văn ở 3 trường cấp 3 (nay là Trung học phổ thông) trong tỉnh Vĩnh Phú quê mình. Trong thời gian công tác tại Trường cấp 3 Cẩm Khê, tôi tham gia dạy đội tuyển học sinh giỏi văn cho tỉnh, viết chương trình giảng dạy môn ngữ văn cho trường phổ thông chuyên của tỉnh.

Trường cấp 3 Cẩm Khê là trường có truyền thống tốt, đội ngũ giáo viên đông, có năm tới 130 người, số học sinh lên tới 2.000 em, có phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, chất lượng văn hóa cao, có nhiều học sinh giỏi, có phong trào lao động hướng nghiệp dạy nghề tốt theo tinh thần giáo dục kỹ thuật tổng hợp (học sinh lao động 3 giờ/tuần theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường có xưởng làm gạch men hoa, ngói xi măng, sản xuất mành cọ xuất khẩu, đan nón lá, ươm cây giống cho ngành lâm nghiệp tỉnh...). Nhiều chuyên gia giáo dục các nước đến thăm và trao đổi kinh nghiệm với trường”.

Chú thích ảnh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Có duyên phấn bảng, thầy Tăng được giao những “lớp học mở” đông người học hơn. Thầy trở thành Phó Bí thư huyện ủy Cẩm Khê, Tổng biên tập báo Vĩnh Phú, rồi Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Thọ… rồi từ quê nhà, người K17 chúng tôi trở thành Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, rồi Chủ tịch Hội chữ thập đỏ Việt Nam…Bạn Trần Ngọc Tăng cứ vừa làm vừa học để có thêm bằng tiến sĩ triết học, đặng mà hôm nay dễ hòa nhập với con cháu trong mái ấm gia đình có tới 9 tiến sĩ, nếu tính cả dâu, rể.

Thí điểm phân cách… nữ - nam

Là sinh viên chính danh mà chúng tôi không học một ngày nào ở khu trường Cầu Giấy nổi tiếng, chỉ được tháo dỡ giảng đường lớn mang tới khu sơ tán. Với con dao rựa đắc dụng - “học cụ” ai cũng có, chúng tôi hạ tre dựng những bếp ăn tập thể, cơm nấu vạc lớn! Lớp văn 1 chúng tôi cùng bếp với các anh văn 4 sau này giữ nhiều trọng trách trong đời sống văn hóa: Lê Ngọc Trà (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục, ĐHSP TP.HCM), Hồ Sỹ Hiệp (nguyên Giảng sư ĐHSP TP.HCM), Nguyến Tấn Phát (nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT), Bùi Công Minh (nguyên Chủ tịch Hội VHNT TPĐà Nẵng)…

Vào năm học thứ nhất, nam sinh viên học riêng một lớp gọi là lớp “Ba sẵn sàng” không chung đụng gì với lớp nữ “Ba đảm đang”. Chia rẽ ấy, khiến sinh viên 2 lớp ngùn ngụt tinh thần thi đua, chẳng bên nào chịu thua bên nào. Đêm văn nghệ kết thúc học kỳ I cả 2 lớp cùng dựng kịch Lôi Vũ - văn học Trung Quốc. Các nữ sinh viên chọn người “trước sau như một” phẳng lì, vào vai nam. Tóc dài vấn lên rồi đội mũ “phớt” ngụy trang. Lớp nam thì…nhờ trời, áo nhỏ “quang treo” của chị em phơi sân vườn nhà dân chẳng thiếu gì, cứ vơ đại vài cái! Bột mì luộc tiêu chuẩn, nhỏ như cái nắp chuông xe đạp, mỗi đứa, mỗi bữa 2 nắm, đứa nào vào vai nữ thì cứ mì ấy mà độn căng 2 lõm to áo nhỏ, rồi son phấn, cũng đẹp chẳng kém gì mấy anh phải phẫu thuật chuyển đổi giới tính bên Thái bây giờ!

Không biết có phải vì thấy chúng tôi tranh đấu hơi lố không mà vào một ngày đẹp trời nào đó không nhớ thật rõ, nhà trường dồn 2 lớp làm 1! Nếu không, lớp chúng tôi đã không đủ nếp tẻ, nữ nam để tạo hứng sư phạm cho thầy Hồ Ngọc Đại, từ Hà Nội lên dạy mấy tiết tâm lý giáo dục. Dạy hay lắm, dạy xong còn đọc thơ tình không rõ của ai: “Gặp em non buổi chiều/ Nhớ em tròn buổi tối/ Đường về quên mất lối/ Rẽ nhầm vào nhà em”.

Nhà văn Trần Quốc Toàn

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm