Văn hóa Sống khỏe

Ung thư gan di căn do chủ quan với viêm gan C suốt 20 năm

21/03/2026 00:36 GMT+7 Google News

Sự chủ quan trước căn bệnh viêm gan C suốt hai thập kỷ đã khiến một nam bệnh nhân 53 tuổi tại Lào Cai rơi vào tình trạng nguy kịch khi khối u gan kích thước lớn đã bắt đầu có dấu hiệu di căn.

Hệ lụy từ 2 thập kỷ chủ quan với viêm gan C

Ngày 13/3/2026, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận bệnh nhân Đ.Đ.T (53 tuổi, trú tại Lào Cai) trong tình trạng mệt mỏi, ăn uống kém và sụt cân nhanh. Qua khai thác bệnh sử, ông T. đã biết mình mắc viêm gan từ 20 năm trước. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn uống thuốc nam và thấy không có triệu chứng bất thường, ông tự cho rằng mình đã khỏi bệnh nên không tái khám hay theo dõi định kỳ. Chỉ đến khi kiểm tra gần đây mới phát hiện đồng thời viêm gan virus C và khối u gan ác tính.

Ung thư gan di căn do chủ quan với viêm gan C suốt 20 năm - Ảnh 1.

Bệnh nhân đã ở giai đoạn muộn, khối u lớn và có dấu hiệu di căn, khiến việc điều trị trở nên phức tạp hơn. Ảnh: BVCC

Đáng chú ý, bệnh nhân còn có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường 11 năm và thói quen uống khoảng 200ml rượu mỗi ngày trong suốt hơn 20 năm. Đây là những yếu tố cộng hưởng khiến tình trạng tổn thương gan tiến triển nhanh chóng hơn.

Những con số báo động

Theo BSCKI. Phạm Diệu Trang (Khoa Viêm gan, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương), bệnh nhân nhập viện với các triệu chứng mệt mỏi, ăn kém và sạm da. Dù các chỉ số sinh hiệu như huyết động vẫn ổn định, không phù, gan lách không sờ thấy. Nhưng kết quả xét nghiệm chuyên sâu lại cho thấy những diễn biến phức tạp bên trong. Chỉ số PIVKA-II của bệnh nhân cao lên tới 2909 mAU/mL, gấp 72 lần so với ngưỡng bình thường (dưới 40 mAU/mL). Kết quả chẩn đoán hình ảnh từ chụp CT Scanner ổ bụng xác nhận sự hiện diện của khối u gan kích thước 61x55 mm. Khối u có đặc điểm ngấm thuốc điển hình của tổn thương ác tính, kèm theo các hạch vùng rốn gan và đầu tụy, nghi ngờ về tình trạng di căn tại chỗ. Bệnh nhân được chẩn đoán theo dõi ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) trên nền viêm gan virus C mạn tính.

Nhấn mạnh về trường hợp này, BS Trang cho biết đây là minh chứng điển hình cho sự nguy hiểm của viêm gan C. Căn bệnh thường diễn tiến âm thầm, không gây triệu chứng rõ rệt trong nhiều năm nhưng vẫn không ngừng phá hủy tế bào gan, dẫn đến xơ gan và ung thư nếu không được kiểm soát kịp thời.

Do được phát hiện ở giai đoạn muộn với khối u lớn và dấu hiệu di căn, quá trình can thiệp sẽ gặp nhiều thách thức. Ngày 19/3/2026, bệnh nhân đã được chuyển sang Trung tâm Phẫu thuật Gan mật – Tiêu hóa để tiếp tục hội chẩn và điều trị chuyên sâu.

Khoảng lặng trong điều trị viêm gan C và nguy cơ ung thư gan tại Việt Nam

Theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư gan cao hàng đầu thế giới. Ước tính, cả nước có khoảng 8 triệu người đang chung sống với viêm gan virus B, C hoặc đồng nhiễm cả hai. Đáng quan ngại, có tới 90% người mắc viêm gan virus C không biết mình mang mầm bệnh, dẫn đến hệ quả là không được chẩn đoán và can thiệp y tế kịp thời.

Số liệu từ Tổ chức Ung thư Quốc tế (Globocan) cũng chỉ ra rằng, ung thư gan đã trở thành bệnh lý ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam với khoảng 26.500 ca mắc mới hàng năm, chiếm 14,5% tổng số ca mắc ung thư trên toàn quốc. Các nghiên cứu lâm sàng cảnh báo về một lộ trình tiến triển âm thầm nhưng nguy hiểm: Khoảng 5–25% bệnh nhân viêm gan C mạn tính sẽ diễn tiến thành xơ gan sau từ 10 đến 20 năm. Trong nhóm đối tượng này, tỷ lệ tiến triển thành ung thư gan dao động từ 1–4% mỗi năm, tạo ra áp lực lớn với hệ thống y tế và sức khỏe cộng đồng.

Lời cảnh báo từ chuyên gia

Từ ca bệnh thực tế trên, BSCKI. Phạm Diệu Trang nhấn mạnh, do viêm gan virus B và C thường diễn tiến âm thầm nên người dân cần nâng cao ý thức chủ động tầm soát để bảo vệ sức khỏe. Theo khuyến cáo của chuyên gia, người bình thường nên thực hiện kiểm tra định kỳ ít nhất một lần mỗi năm. Còn riêng với nhóm có nguy cơ cao, tần suất tầm soát cần duy trì 6 tháng một lần nhằm kịp thời phát hiện các biến đổi bất thường của gan. Đặc biệt, BS. Trang lưu ý những bệnh nhân đã có chỉ định điều trị viêm gan virus C cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ của bác sĩ chuyên khoa, tuyệt đối không tự ý sử dụng thuốc nam hoặc trì hoãn việc can thiệp y tế hiện đại. 

Với sự phát triển của y học hiện nay, viêm gan virus C hoàn toàn có thể điều trị khỏi với tỷ lệ trên 95% nếu được phát hiện sớm, bằng các thuốc kháng virus đường uống, ít tác dụng phụ. Tuy nhiên, khi bệnh đã tiến triển đến ung thư gan, việc điều trị sẽ cần các can thiệp chuyên sâu như phẫu thuật, nút mạch gan, hóa trị và theo dõi sát  với tiên lượng khó khăn hơn nhiều.

PHƯƠNG NHI

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm