(TT&VH) - Cuộc đời bà Hoa dù có nhiều thăng trầm, dù phải chuyển nhà rất nhiều
lần, nhưng ở đâu trước nhà bà luôn trồng một bụi hoa hồng. Đó là sự
tưởng nhớ, tình yêu thương mà bà dành cho người cha mang quốc tịch Đức
nay đã đi về nơi xa. “Cha tôi yêu hoa hồng lắm, tôi tên Hoa cũng xuất
phát từ loài hoa này mà...” – đứng bên khóm hoa hồng bung những bông đỏ
thắm, bà tâm sự.
Sinh ra trên núi rừng Việt Bắc, lớn lên trong chiến tranh, theo bố mẹ di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhưng đó là quãng thời gian hạnh phúc nhất với bà Hoa. Chỉ được sống bên cha đến năm 8 tuổi, nhưng ở bà vẫn lưu dấu những hồi ức thật đẹp về cha. Bà vẫn còn nhớ năm lên 5 tuổi, tại Tuyên Quang, bà cùng các bạn đang nghịch với con dao lam trên tay thì máy bay đến, tất cả bọn trẻ sợ quá bỏ chạy vào gốc trám nấp bị ngã dao lam cứa vào tay chảy máu.
Không chỉ trồng hoa hồng trước cửa, trong nhà bà Hoa cũng rất nhiều hình ảnh hoa hồng.
Cha bà vội vàng lấy cả nắm thuốc lào dịt vào tay cho bà (phi công Schulze - Nguyễn Đức Việt tuy là người Âu nhưng lại có thói quen hút thuốc lào nên rất sẵn thuốc). Hay một lần khác bà ngoáy tai bị bông kẹt trong lỗ tai, cha bà đã không quản xa xôi cõng bà đi bảy tám cây số đường rừng đến chỗ Bác sỹ Tôn Thất Tùng để nhờ lấy ra. Những lần gặp trời mưa, hai cha con đang đi trên đường, cha bà đã cởi áo mưa bọc cho bà để mình chịu ướt. Khi về tiếp quản sân bay Gia Lâm, mỗi chiều cuối tuần bố bà thường đánh xe ô-tô đưa hai chị em đi ra phố ăn kem. Cũng nhiều hôm bận rộn ông không đưa các con đi chơi được, hai chị em lại dấu hàm răng giả của ông đi để ra điều kiện, thế là ông lại phải sắp xếp công việc chiều bọn trẻ...
Nhưng những tháng ngày hạnh phúc ấy không được lâu. Sau khi cha bà về Đức thì mọi chuyện gần như là chấm dứt. Mấy mẹ con vất vả, đùm bọc nuôi nhau với đồng lương ít ỏi. Mẹ bà tuy vẫn rất thương con nhưng do thua thiệt, thiếu thốn tình cảm nên tính khí cũng đổi thay. Chị em bà luôn phải sống thiếu thốn tình cảm.
Bà Hoa tập làm xiếc xe đạp.
Đầu năm 1968, mẹ con bà nhận được một bức điện của Bộ ngoại giao thông báo: “Bố của hai cháu Nguyễn Việt Hoa và Nguyễn Đức Hồng chuẩn bị sang Việt Nam vào cuối năm nay”. Mấy mẹ con khấp khởi mừng thầm. Vậy là cả gia đình sẽ có một cuộc hội ngộ. Năm đó bà tròn 20 tuổi. Nhưng cuộc hội ngộ được nhiều người trông đợi đã không bao giờ diễn ra nữa. Cuối năm ấy, gia đình bà lại nhận được một thông báo khác cũng của Bộ ngoại giao mang hung tin: “Schulze - Nguyễn Đức Việt đã mất”. Khi chuẩn bị sang Việt Nam dự lễ khánh thành triển lãm Quân đội theo lời mời của Chính phủ thì Schulze đã mất đột ngột bởi một căn bệnh khi đang công tác tại một sân bay ở Brucxen (Bỉ) vào ngày 1/7/1968, sau bữa ăn tối. Thế là ước vọng đoàn tụ của vợ - chồng, cha - con đành đứt đoạn.
Những thông tin về cha bà Hoa biết được là qua người vợ cả của ông –Hertha Wenrel. Bà Wenrel đã gửi thư và quà nhiều lần cùng những kỷ vật của Schulze về Việt Nam cho mẹ con bà Thành khi ông không còn nữa. Có lá dài mấy trang đánh máy, cả con trai của bà (anh Peter - cùng cha khác mẹ với bà Hoa cũng viết thư cho em gái). Theo như những người chứng kiến cái chết của SChulze kể lại, trước khi nhắm mắt, ông chỉ gọi được hai tiếng “hoa hồng” lẫn những tiếng nấc khan. Hiện nay mộ của Schulze vẫn nằm trên đất Bỉ. Hàng năm, Peter vẫn gửi tiền từ Đức sang cho người quản trang để mộ của ông luôn luôn có một lọ hoa hồng.
Lớn lên Nguyễn Việt Hoa đi làm ở Đoàn xiếc trung ương. Diễn viên Việt Hoa có dáng người cao ráo, tóc dài, lại mang dòng máu Châu Âu lạ mắt nên khán giả rất thích mỗi khi cô xuất hiện. Ở đoàn có 3 người tên Hoa nên mỗi người được đặt một biệt danh: một anh vóc người to cao nên được gọi là “Hoa voi”; một cô chuyên dạy thú nên gọi là “Hoa thú”; còn cô, do mang dòng máu Đức nên mọi người thường gọi là “Hoa Đức”. Lương của nghệ sỹ xiếc lúc ấy là 42 đồng, tương đối cao so với mặt bằng xã hội. Năm 1966 do có sự động viên thuyết phục của mẹ, Việt Hoa bỏ nghề xiếc về công tác tại Nhà máy A37 - Quân chủng PKKQ cho mẹ con gần gũi (khi ông Schulze về tiếp quản sân bay Gia Lâm và gắn bó với Không quân thì bàThành cũng về công tác trong Quân chủng này và làm việc ở đây cho đến khi nghỉ hưu). Chuyển về nơi công tác mới, Hoa đã chấp nhận hưởng mức lương giảm xuống gần 10 lần (từ 42 đồng nay chỉ còn có... 5 đồng một tháng). Tại đây, theo nguyện vọng của cô, nhà máy đã đồng ý cho cô học nghề... thợ tiện. Nhắc lại chuyện này bà Việt Hoa bảo, không hiểu tại sao ngày đó lại chọn học nghề thợ tiện, chỉ biết rằng cứ nghe thấy tiếng máy tiện chạy là thích lắm.
Vợ chồng bà Hoa hiện nay.
Năm 1970, bà Hoa lập gia đình với ông Nguyễn Đức Hợp, là VĐV thể thao, sau này làm lái xe ở nhà máy A37. Năm 1974, ông Hợp chuyển ngành về lại cơ quan cũ là xí nghiệp xe khách Lạng Sơn. Thế là bà lại theo chồng về Lạng Sơn làm ở Cty vật tư tỉnh. Sau đó ít lâu, chồng bà trong một chuyến công tác, chiếc xe của ông đã hứng trọn một quả mìn từ thời chiến tranh còn sót lại. Bà mất chồng từ đấy. Gần 10 năm sau, bà lại đi bước nữa với một người đàn ông vốn là một lái xe Trường Sơn thuộc đoàn 559. Mười lăm năm sống trên đất Lạng Sơn với bà ngọt ngào thì ít, đắng cay thì nhiều. Chồng chết, lấy chồng mới; con cái chẳng ra sao... Rồi sau đó chuyện gia đình nhiều bất hạnh đẩy đưa, có thời gian bà phải đi làm “ô-sin” dỗ con cho người khác.
Đến năm 1990 thì bà chuyển về Hoà Bình dựng nhà ở trên đất của người cháu chồng và neo đậu lại mảnh đất này với một cuộc sống đạm bạc. Ở nơi đây hầu như không ai biết quá khứ của bà. Năm 2000, ông bà dự định về lại Lạng Sơn sống với con gái nên đã bán hết cơ ngơi ở Hoà Bình, nhưng rồi mọi chuyện không như ý muốn, hai người lại trở về chốn cũ với hai bàn tay trắng. Một người em kết nghĩa thương tình đã cho bà một góc vườn để dựng nhà trên đó. Số tiền làm ngôi nhà này đến nay vẫn còn nợ ngân hàng chưa trả hết.
Với số lương hưu mỗi tháng trên vài trăm ngàn, cuộc sống của bà khá eo hẹp. Thời gian sau bà xoay qua làm xôi bán. Ngày ngày bà dậy từ hai giờ sáng đồ một yến gạo xôi các loại để đem ra ngã ba đầu làng bán thêm tiền rau dưa. Bà nuôi hai con mèo, chúng ngoan lắm. Mặc dù phải “đầu tư” mỗi tuần đến mấy lạng tép nhưng bà vẫn nuôi. Thế mà con mèo đực tự nhiên bỏ lên khu rừng gần nhà ở, cứ đến tối mới về, tinh mơ sáng hôm sau nó đã dậy cào cào vào chân chào bà để lên rừng, còn mỗi con mèo cái trung thành với chủ. Bà bảo, vừa rồi “chúng nó” vào trả những trăm nghìn một cân, ông đòi bán vì sợ nó bỏ đi nốt nhưng bà không cho nên ông đành thôi. Bà bảo bà giữ nó vì nó giống con mèo mà “mẹ già” của bà (vợ cả ông Nguyễn Đức Việt) bế trong tấm ảnh gửi cho bà. Còn con khướu nó hót hay lắm, nó như hiểu được tâm trạng của bà. Thi thoảng gặp chuyện gì bức bối bà thường than một mình “khổ quá! khổ quá!” Vậy là nó cũng bắt chước kêu theo “khổ quá khổ quá!!” Thế là nó và bà càng thêm gắn bó.
Kể chuyện về cha, bà Nguyễn Việt Hoa nói trong nước mắt: “Vừa rồi tôi đi xin xác nhận bố tôi đã tham gia kháng chiến chống Pháp nhưng mọi chuyện rất phức tạp. Nhiều lúc tôi thấy tủi thân lắm, tôi chỉ cần xác minh những gì thuộc về mình, những gì là sự thực của cha tôi mà nhiều người đã biết nhưng mãi mới xong nhờ có những cán bộ cùng làm việc với bố tôi nay vẫn còn sống đã xác nhận cho và trong nhiều tài liệu cũng nói rất rõ về Schulze”. Bà bảo bà làm việc đó vì nghe tin nhà nước có chính sách đãi ngộ với những người tham gia cách mạng, nhưng bố bà là người... nước ngoài, hơn nữa lại... đã chết nên mọi chuyện không đơn giản. May mà đến nay thì mọi chuyện đã xong.
Sinh ra trên núi rừng Việt Bắc, lớn lên trong chiến tranh, theo bố mẹ di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhưng đó là quãng thời gian hạnh phúc nhất với bà Hoa. Chỉ được sống bên cha đến năm 8 tuổi, nhưng ở bà vẫn lưu dấu những hồi ức thật đẹp về cha. Bà vẫn còn nhớ năm lên 5 tuổi, tại Tuyên Quang, bà cùng các bạn đang nghịch với con dao lam trên tay thì máy bay đến, tất cả bọn trẻ sợ quá bỏ chạy vào gốc trám nấp bị ngã dao lam cứa vào tay chảy máu.

Cha bà vội vàng lấy cả nắm thuốc lào dịt vào tay cho bà (phi công Schulze - Nguyễn Đức Việt tuy là người Âu nhưng lại có thói quen hút thuốc lào nên rất sẵn thuốc). Hay một lần khác bà ngoáy tai bị bông kẹt trong lỗ tai, cha bà đã không quản xa xôi cõng bà đi bảy tám cây số đường rừng đến chỗ Bác sỹ Tôn Thất Tùng để nhờ lấy ra. Những lần gặp trời mưa, hai cha con đang đi trên đường, cha bà đã cởi áo mưa bọc cho bà để mình chịu ướt. Khi về tiếp quản sân bay Gia Lâm, mỗi chiều cuối tuần bố bà thường đánh xe ô-tô đưa hai chị em đi ra phố ăn kem. Cũng nhiều hôm bận rộn ông không đưa các con đi chơi được, hai chị em lại dấu hàm răng giả của ông đi để ra điều kiện, thế là ông lại phải sắp xếp công việc chiều bọn trẻ...
Nhưng những tháng ngày hạnh phúc ấy không được lâu. Sau khi cha bà về Đức thì mọi chuyện gần như là chấm dứt. Mấy mẹ con vất vả, đùm bọc nuôi nhau với đồng lương ít ỏi. Mẹ bà tuy vẫn rất thương con nhưng do thua thiệt, thiếu thốn tình cảm nên tính khí cũng đổi thay. Chị em bà luôn phải sống thiếu thốn tình cảm.

Đầu năm 1968, mẹ con bà nhận được một bức điện của Bộ ngoại giao thông báo: “Bố của hai cháu Nguyễn Việt Hoa và Nguyễn Đức Hồng chuẩn bị sang Việt Nam vào cuối năm nay”. Mấy mẹ con khấp khởi mừng thầm. Vậy là cả gia đình sẽ có một cuộc hội ngộ. Năm đó bà tròn 20 tuổi. Nhưng cuộc hội ngộ được nhiều người trông đợi đã không bao giờ diễn ra nữa. Cuối năm ấy, gia đình bà lại nhận được một thông báo khác cũng của Bộ ngoại giao mang hung tin: “Schulze - Nguyễn Đức Việt đã mất”. Khi chuẩn bị sang Việt Nam dự lễ khánh thành triển lãm Quân đội theo lời mời của Chính phủ thì Schulze đã mất đột ngột bởi một căn bệnh khi đang công tác tại một sân bay ở Brucxen (Bỉ) vào ngày 1/7/1968, sau bữa ăn tối. Thế là ước vọng đoàn tụ của vợ - chồng, cha - con đành đứt đoạn.
Những thông tin về cha bà Hoa biết được là qua người vợ cả của ông –Hertha Wenrel. Bà Wenrel đã gửi thư và quà nhiều lần cùng những kỷ vật của Schulze về Việt Nam cho mẹ con bà Thành khi ông không còn nữa. Có lá dài mấy trang đánh máy, cả con trai của bà (anh Peter - cùng cha khác mẹ với bà Hoa cũng viết thư cho em gái). Theo như những người chứng kiến cái chết của SChulze kể lại, trước khi nhắm mắt, ông chỉ gọi được hai tiếng “hoa hồng” lẫn những tiếng nấc khan. Hiện nay mộ của Schulze vẫn nằm trên đất Bỉ. Hàng năm, Peter vẫn gửi tiền từ Đức sang cho người quản trang để mộ của ông luôn luôn có một lọ hoa hồng.
Lớn lên Nguyễn Việt Hoa đi làm ở Đoàn xiếc trung ương. Diễn viên Việt Hoa có dáng người cao ráo, tóc dài, lại mang dòng máu Châu Âu lạ mắt nên khán giả rất thích mỗi khi cô xuất hiện. Ở đoàn có 3 người tên Hoa nên mỗi người được đặt một biệt danh: một anh vóc người to cao nên được gọi là “Hoa voi”; một cô chuyên dạy thú nên gọi là “Hoa thú”; còn cô, do mang dòng máu Đức nên mọi người thường gọi là “Hoa Đức”. Lương của nghệ sỹ xiếc lúc ấy là 42 đồng, tương đối cao so với mặt bằng xã hội. Năm 1966 do có sự động viên thuyết phục của mẹ, Việt Hoa bỏ nghề xiếc về công tác tại Nhà máy A37 - Quân chủng PKKQ cho mẹ con gần gũi (khi ông Schulze về tiếp quản sân bay Gia Lâm và gắn bó với Không quân thì bàThành cũng về công tác trong Quân chủng này và làm việc ở đây cho đến khi nghỉ hưu). Chuyển về nơi công tác mới, Hoa đã chấp nhận hưởng mức lương giảm xuống gần 10 lần (từ 42 đồng nay chỉ còn có... 5 đồng một tháng). Tại đây, theo nguyện vọng của cô, nhà máy đã đồng ý cho cô học nghề... thợ tiện. Nhắc lại chuyện này bà Việt Hoa bảo, không hiểu tại sao ngày đó lại chọn học nghề thợ tiện, chỉ biết rằng cứ nghe thấy tiếng máy tiện chạy là thích lắm.

Năm 1970, bà Hoa lập gia đình với ông Nguyễn Đức Hợp, là VĐV thể thao, sau này làm lái xe ở nhà máy A37. Năm 1974, ông Hợp chuyển ngành về lại cơ quan cũ là xí nghiệp xe khách Lạng Sơn. Thế là bà lại theo chồng về Lạng Sơn làm ở Cty vật tư tỉnh. Sau đó ít lâu, chồng bà trong một chuyến công tác, chiếc xe của ông đã hứng trọn một quả mìn từ thời chiến tranh còn sót lại. Bà mất chồng từ đấy. Gần 10 năm sau, bà lại đi bước nữa với một người đàn ông vốn là một lái xe Trường Sơn thuộc đoàn 559. Mười lăm năm sống trên đất Lạng Sơn với bà ngọt ngào thì ít, đắng cay thì nhiều. Chồng chết, lấy chồng mới; con cái chẳng ra sao... Rồi sau đó chuyện gia đình nhiều bất hạnh đẩy đưa, có thời gian bà phải đi làm “ô-sin” dỗ con cho người khác.
Đến năm 1990 thì bà chuyển về Hoà Bình dựng nhà ở trên đất của người cháu chồng và neo đậu lại mảnh đất này với một cuộc sống đạm bạc. Ở nơi đây hầu như không ai biết quá khứ của bà. Năm 2000, ông bà dự định về lại Lạng Sơn sống với con gái nên đã bán hết cơ ngơi ở Hoà Bình, nhưng rồi mọi chuyện không như ý muốn, hai người lại trở về chốn cũ với hai bàn tay trắng. Một người em kết nghĩa thương tình đã cho bà một góc vườn để dựng nhà trên đó. Số tiền làm ngôi nhà này đến nay vẫn còn nợ ngân hàng chưa trả hết.
Với số lương hưu mỗi tháng trên vài trăm ngàn, cuộc sống của bà khá eo hẹp. Thời gian sau bà xoay qua làm xôi bán. Ngày ngày bà dậy từ hai giờ sáng đồ một yến gạo xôi các loại để đem ra ngã ba đầu làng bán thêm tiền rau dưa. Bà nuôi hai con mèo, chúng ngoan lắm. Mặc dù phải “đầu tư” mỗi tuần đến mấy lạng tép nhưng bà vẫn nuôi. Thế mà con mèo đực tự nhiên bỏ lên khu rừng gần nhà ở, cứ đến tối mới về, tinh mơ sáng hôm sau nó đã dậy cào cào vào chân chào bà để lên rừng, còn mỗi con mèo cái trung thành với chủ. Bà bảo, vừa rồi “chúng nó” vào trả những trăm nghìn một cân, ông đòi bán vì sợ nó bỏ đi nốt nhưng bà không cho nên ông đành thôi. Bà bảo bà giữ nó vì nó giống con mèo mà “mẹ già” của bà (vợ cả ông Nguyễn Đức Việt) bế trong tấm ảnh gửi cho bà. Còn con khướu nó hót hay lắm, nó như hiểu được tâm trạng của bà. Thi thoảng gặp chuyện gì bức bối bà thường than một mình “khổ quá! khổ quá!” Vậy là nó cũng bắt chước kêu theo “khổ quá khổ quá!!” Thế là nó và bà càng thêm gắn bó.
Kể chuyện về cha, bà Nguyễn Việt Hoa nói trong nước mắt: “Vừa rồi tôi đi xin xác nhận bố tôi đã tham gia kháng chiến chống Pháp nhưng mọi chuyện rất phức tạp. Nhiều lúc tôi thấy tủi thân lắm, tôi chỉ cần xác minh những gì thuộc về mình, những gì là sự thực của cha tôi mà nhiều người đã biết nhưng mãi mới xong nhờ có những cán bộ cùng làm việc với bố tôi nay vẫn còn sống đã xác nhận cho và trong nhiều tài liệu cũng nói rất rõ về Schulze”. Bà bảo bà làm việc đó vì nghe tin nhà nước có chính sách đãi ngộ với những người tham gia cách mạng, nhưng bố bà là người... nước ngoài, hơn nữa lại... đã chết nên mọi chuyện không đơn giản. May mà đến nay thì mọi chuyện đã xong.
Nguyễn Xuân Thủy