Khi khủng hoảng tài chính xảy ra, các doanh nghiệp như bị “đánh úp”. Vậy phải làm sao để có sự chuẩn bị tốt?
Đánh giá tầm quan trọng của việc các doanh nghiệp cần sớm nhận biết các cơn khủng hoảng tài chính để sớm có phương án đối phó cũng như tận dụng cơ hội, HSB đã tổ chức buổi hội thảo với sự góp mặt ông Dominic Barton - Chủ tịch Tập đoàn McKinsey tại châu Á. Có thể nói, không một công ty tư vấn chiến lược kinh doanh nào nổi tiếng được săn đón và thành công bền vững như McKinsey.
![]() |
Cảnh giác để chiếm ưu thế cạnh tranh
Qua nghiên cứu từ các cuộc khủng hoảng tài chính từng xảy ra trong quá khứ, ông Dominic Barton đưa ra 10 tín hiệu và cảnh báo các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần sớm nhận biết.
1. Giá trị bị đổ vỡ ở khối tư nhân:
Nếu các công ty không kiếm đủ tiền để trang trải cho chi phí của số tiền họ đi vay thì một cuộc khủng hoảng có thể đang trong giai đoạn tiềm ẩn. Khi lợi nhuận của phần lớn các công ty đều ít hơn chi phí trung bình về vốn, tín hiệu khủng hoảng bắt đầu.
2. Tỷ lệ trang trải lãi suất:
Nếu tỷ lệ giữa dòng tiền mặt và các khoản thanh toán lãi của một công ty giảm xuống dưới 2, công ty đó có thể đang phải đối mặt với khủng hoảng thanh khoản; nếu điều này xảy ra ở các công ty hàng đầu trong nước, một cuộc khủng hoảng với quy mô rộng lớn có cơ hội “bùng nổ”.
3. Mức lợi nhuận của các ngân hàng:
Doanh thu tài sản trên toàn hệ thống hàng năm nhỏ hơn 1% đối với các ngân hàng thương mại và/hoặc biên độ lãi suất ròng hàng năm nhỏ hơn 2% cũng là một trong những nguy cơ nổ ra một cơn khủng hoảng.
4. Danh mục cho vay tăng nhanh:
Khi danh mục cho vay của ngân hàng phát triển nhanh hơn 20% trong vòng hơn 2 năm, nhiều khoản nợ sẽ trở thành nợ xấu dẫn đến khủng hoảng tài chính.
5. Tiền gửi giảm hoặc tỷ lệ tiền gửi tăng nhanh:
Khi những người gửi tiền bắt đầu rút tiền khỏi các ngân hàng địa phương, đặc biệt là trong vòng 2 quý liên tiếp, hãy cảnh giác.
6. Các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả:
Việc cho vay không có sự tư vấntốtthườngkết thúc bằngviệc gia tăng các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả. Khi các khoản vay này vượt quá 5% của tổng sốtài sản ngân hàng,đènđỏ bật sáng.Vấn đề nằm ở chỗcácngân hàng thường không công bố các khoản cho vay không có khả năng hoàn trả cho tới khi xảy ra khủnghoảng.
7. Tỷ lệ vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng:
Khi mộtngân hàng thương mại thiếu vốn, việc đi vay từ thị trường liên ngân hàng, hoặc đưa ra lãi suất cao hơn ở ngoài thị trường nhằm thu hút vốn thì thị trường về bản chấtđang tỏ rakhôngcòn tínnhiệmđốivớingân hàng và rấtcó thể làm lây lan hàng loạt.
8. Cơ cấu thời hạn cho vay của ngân hàng nước ngoài:
Nhiều công ty ở các thị trường mới xuất hiệnvaytừcácngân hàng nước ngoài USD, Euro hoặc yên Nhật để làm giảm lãi suất. Khi hơn 25% của khoản nước ngoài cho một nước nhất định vay có thời hạn ít hơn một năm, cần bật đèn cảnh báo vì các khoản cho vay đó rất dễ bị rútlạinếu xảy ra khủng hoảng.
9. Tăng trưởng nhanh và sự sụp đổ đồng tiền quốc tế và các dòng đầu tư:
Khi các nhà đầu tư nước ngoài, thông qua vốn chủ sở hữu trái phiếu và các khoản cho vay ngân hàng, đổ tiền vào một nước mà không có hiệu quả hoặc quản lý kém, kết quả là dư nợ lớn có thể dẫn đến khủng hoảng. Các nguồn đầu tư như vậy có thể tạo điều kiện để khủng hoảng xảy ra.
Trên đây là 10 chỉ số quan trọng mà mỗi nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần kiểm soát cả về mức độ và xu hướng. Khi một vài trong số các chỉ số này bắt đầu đi sai hướng cùng một lúc, có thể một cuộc khủng hoảng đang chờ cơ hội bùng phát.
![]() |
Cần loại bỏ mô hình sai lầm
|
Lời khuyên:Các doanh nghiệp cần chú trọng tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận hơn sự tăng trưởng về mặt doanh thu: “Việc chú trọng hơn đến tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận là điều các doanh nghiệp cần chú ý, thay vì chỉ quan tâm tới sự tăng trưởng về mặt doanh thu như mô hình hiện nay ở không ít doanh nghiệp Việt Nam. Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước, lãnh đạo doanh nghiệp cần giám sát kỹ hơn việc trang trải lãi suất của chính đơn vị mình. Việc chú trọng đầu tư quá nhiều vốn vào lĩnh vực bất động sản của nhiều doanh nghiệp hiện nay cũng là điều đáng lưu ý. |
Khi được hỏi về cơ hội nào cho những doanh nghiệp trước nguy cơ dây chuyền của cuộc khủng hoảng, ông cho biết: “Khi những doanh nghiệp đưa ra được các phương án dự phòng tốt cho mình để tránh được một cuộc khủng hoảng ở quy mô doanh nghiệp sẽ góp phần cứu cả nền kinh tế tránh được một cuộc khủng hoảng lớn”.
|
Đứng trước sự sa sút của nền kinh tế và các khủng hoảng tài chính, các nhà lãnh đạo cũng như các nhà hoạch định chính sách luôn phải đối diện với câu hỏi: Làm thế nào để dự đoán được các hiện tượng này để nhận biết và giảm thiểu tác động của nó trong tương lai? Thực tế, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần biết kiểm soát và lấy đó làm cơ hội để vượt lên đối thủ. |
Biết tận dụng cơ hội
Trong bối cảnh xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính đôi khi lại là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp biết tận dụng. “Khi khủng hoảng tài chính xảy ra cũng là lúc việc mua bán, sáp nhập các công ty diễn ra sôi động hơn lúc nào hết. Những doanh nghiệp có tham vọng có thể xem đây là một cơ hội lớn để mở rộng tầm ảnh hưởng của mình”, ông Dominic Barton khẳng định.

