Hành tinh bóng đá

Thời đại mang tên 4 - 4 - 2

26/06/2010 09:42 GMT+7 Google News
(TT&VH Cuối tuần) - Đã có một thời gian dài, người ta quan niệm: Sở hữu hàng tấn công mạnh là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của một đội bóng. Tuy nhiên, tại World Cup 1966 ở Anh, đội tuyển nước chủ nhà đã đưa ra một cách nhìn nhận khác.


Vì sự căng thẳng trong trận tứ kết, nên sau trận đấu, Sir Alf Ramsey không cho các cầu thủ của mình đổi áo đấu với các thủ tuyển Argentina
Tại VCK World Cup 1966, HLV đội tuyển Anh - Sir Alf Ramsey, đã xây dựng tuyến tiền vệ để làm nền tảng cho cuộc chinh phục đỉnh cao nhất của bóng đá thế giới. “Hãy cho tôi xem tuyến tiền vệ của bạn, tôi sẽ nói đội bóng của bạn như thế nào”. Câu cách ngôn này ra đời chính trong thời gian đó.

Bóng đá tiếp tục phát triển theo hướng thu gọn những tiền đạo chính thống, chỉ cắm một, hai người ở trên. Trước đó, tại World Cup năm 1958 ở Thụy Điển, người Brazil đã đưa ra sơ đồ chiến thuật 4-2-4 thay cho sơ đồ 3-2-5. Sau đó từ 5 tiền đạo, người ta chuyển sang sơ đồ 3 tiền đạo. Nhưng dù số lượng tiền đạo nhiều hay ít, thì tuyến tiền vệ hầu như không thay đổi trong hàng chục năm. Với tiền đạo giữa, nhiều khi không cần đòi hỏi phẩm chất kỹ thuật siêu việt, toàn năng, mà điều chủ yếu là linh cảm ghi bàn. Anh ta có thể “bắn phá” khung thành từ bất cứ vị trí nào trong vòng cấm địa. Còn các tiền đạo thuộc 2 cánh, chính là các cầu thủ phải có kỹ thuật giỏi, khỏe và nhanh nhẹn. Họ cần phải vượt qua các hậu vệ cánh của đối phương, sau đó tạt bóng vào vòng cấm địa, tạo tình huống ghi bàn cho tiền đạo giữa.

Tuy thế, theo thời gian, chức năng của các tiền đạo cánh ngày một mở rộng, họ không chỉ hoạt động dọc theo hành lang mà mình đảm nhiệm, mà còn tự mình tạo ra những tình huống trực tiếp uy hiếp khung thành đối phương. Chẳng hạn, trước khi Ian Wright xuất hiện, cầu thủ ghi bàn tốt nhất trong lịch sử câu lạc bộ Arsenal (Anh) là tiền đạo cánh trái Cliff Bastin.

Những tiền đạo cánh siêu hạng nhất, nổi tiếng nhất khi đó là Stanley Matthews, Thomas Finney của Anh, Garrincha của Brazil, Zoltan Czibor của Hungary và Francisco
Gento của Tây Ban Nha. Mỗi người trong số này đều có thể được gọi là danh thủ vĩ đại cho vị trí mà họ đảm nhiệm. Có lẽ, đây chính là bộ ngũ tiền đạo cánh siêu đẳng vào giữa thập niên 1960.

Dù vậy, cũng trong khoảng thời gian này, nhiều huấn luyện viên tại các nước bắt đầu áp dụng đến chiến thuật khác cho những tiền đạo chạy cánh. Họ hướng đến tiền vệ cánh thay thế cho tiền đạo cánh. Tại Liên Xô khi đó, huấn luyện viên của Dinamo Kiev là Victor Maslov đã áp dụng mô hình này. Và nó được Sir Alf Ramsey xây dựng hoàn chỉnh cho đội tuyển Anh tại VCK World Cup 1966.

Cũng cần nói thêm, Sir Alf Ramsey trước đó là huấn luyện viên của câu lạc bộ Ipswich từ cuối thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960. Khi đó, ông đã buộc phải từ bỏ các tiền đạo cánh theo truyền thống vì Ipswich không có cầu thủ có thể đảm nhiệm tốt vị trí này. Hơn thế, trong tay ông lại có Jimmy Ledbetter - cầu thủ bậc thầy, có thể kiến thiết, chuyền bóng rất chính xác trong bất kỳ khoảng cách nào. Alf Ramsey quyết định thay vì để Ledbetter chơi tiền đạo cánh mà kéo cầu thủ này về vị trí tiền vệ. Việc này xuất từ 2 lý do: Thứ nhất, là do Ledbetter đã lớn tuổi, không còn nhanh nhẹn. Thứ hai, chơi tiền vệ, anh có thể “trốn” được hậu vệ đối phương, trong khi từ xa vẫn kiến thiết được các cơ hội ghi bàn cho các tiền đạo

Dù vậy, Alf Ramsey không vội vã áp dụng mô hình đã mang lại thành công cho ông khi ở Ipswich. Ông có nhiều cầu thủ trong tay khi dẫn dắt đội tuyển, vì thế trong danh sách các cầu thủ tham dự vòng chung kết World Cup 1966, ông vẫn ghi tên 3 tiền đạo cánh là John Connelly, Terri Paine và Ian Callaghan. Tuy nhiên, cả ba cầu thủ này không gây ấn tượng với vị huấn luyện viên trưởng trong các trận đấu tại vòng bảng, dù mỗi người trong số họ đã có cơ hội ra sân. Đối thủ của Anh ở vòng bảng là Uruguay, Mexico và Pháp. Cho dù áp dụng sơ đồ thi đấu phòng ngự chắc và sử dụng tiền đạo cánh để hy vọng chiến thắng, nhưng tuyển Anh vận hành khá tệ. Tuy lọt vào tứ kết, nhưng xem tuyển Anh thi đấu ai cũng nhận ra rằng, đây là đội bóng có các tuyến không cân bằng.

Cũng cần nói thêm, tuyển Anh vượt qua vòng bảng là nhờ vào tài năng của tiền vệ tấn công Bobby Charlton và lối chơi phòng ngự chắc chắn. Nhưng nếu không có sự thay đổi thì họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Không có gì đáng ngạc nhiên khi bàn thắng đầu tiên của tuyển Anh tại giải là nhờ cú sút từ xa của Bobby Charlton. Nhưng trong số 4 bàn thắng mà họ ghi được, thì chỉ có 1 bàn do tiền đạo cánh kiến tạo.

Đối đầu với Argentina tại tứ kết cần phải thử nghiệm điều gì đó mới mẻ. Bởi, Alf Ramsey đánh giá đây là đối thủ rất khó chơi dành cho tuyển Anh. Các cầu thủ Nam Mỹ không chỉ có kỹ thuật cá nhân tuyệt vời, mà có sự tổ chức cao cùng nền thể lực dồi dào. Đó là đội bóng mạnh với những cầu thủ xuất sắc có thể tạo nên sự khác biệt của trận đấu. Đặc biệt nguy hiểm là hậu vệ trái Silvio Marzolini, rất nhanh nhẹn, khéo léo. Để chống lại Marzolini, theo Alf Ramsey, thì cả ba tiền đạo cánh mà ông đang có trong tay đều không thể. Khi đó ông quyết định sử dụng tiền vệ Alan Ball.

Khi bắt đầu giải đấu, người Anh sử dụng sơ đồ 4-3-3 và trong trận đấu đầu tiên, Alan Ball là tiền vệ thứ ba, bên cạnh Nobby Stiles và Bobby Charlton. Nếu như phong độ hai tiền vệ Nobby Stiles - Bobby Charlton đảm bảo, thì Alan Ball sau khi thi đấu không tốt trong trận gặp Uruguay, bị thay thế bởi tiền đạo Martin Peters. Nhưng giờ đây, Alf Ramsey lại sử dụng cả Peters, cả Ball. Thủ môn tuyển Anh - Gordon Banks, cho rằng đây là quyết định đúng đắn: “Cả Peters, cả Ball đều là cầu thủ thông minh, sáng tạo. Họ hoạt động bên cánh không biết mệt mỏi, giúp đỡ hàng thủ, hoán đổi vị trí, bọc lót cho các hậu vệ biên George Cohen và Ray Wilson. Peters còn là nghệ nhân của những đường chuyền từ cánh”. Quả thực, Martin Peters đã chứng minh lời nói của Gordon Banks là đúng, khi trong trận gặp Argentina, anh thực hiện đường chuyền từ cánh để Geoff Hurst ghi bàn, giúp Anh lọt vào bán kết.

Nhưng quan trọng hơn, từ trận đấu này, cho đến khi kết thúc giải, Sir Alf Ramsey luôn áp dụng sơ đồ 4-4-2, mang lại chức vô địch cho tuyển Anh và mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử bóng đá thế giới. Cho đến nay sơ đồ 4-4-2 vẫn được huấn luyện viên của nhiều đội bóng ưa dùng

Thành Nam

Trận tứ kết World Cup 1966, Anh - Argentina 1 - 0 Thành phố London, ngày 23/7/1966, sân vận động Wembley, trọng tài Rudolf Kreitlein (CHLB Đức), 90.584 khán giả.

+ Tuyển Anh: Gordon Banks, George Cohen, Ray Wilson, Jack Charlton, Bobby Moore (đội trưởng), Nobby Stiles, Alan Ball, Bobby Charlton, Geoff Hurst, Martin Peters, Roger Hunt. Ghi bàn: Geoff Hurst, 78’.

+ Tuyển Aargentina
: Antonio Roma, Roberto Perfumo, Silvio Marzolini, Roberto Ferreiro, Jose Albrecht, Antonio Rattin (đội trưởng), Jorge Solari, Alberto Gonzalez, Luis Artime, Ermindo Onega, Oscar Mas.Thẻ đỏ: Antonio Rattin, 35’.

Sir Alf RarAmsSey: “Sử dụng sơ đồ 4-4-2, tôi không cảm thấy tiếc lắm với các tiền đạo vận hành theo sơ đồ cũ. Những người chỉ đứng ở vòng cấm địa và chờ bóng. Quả là sự sang trọng quá lớn – có đến 2 cầu thủ mà chỉ đứng tại một nơi và hoạt động trong phạm vi nhỏ hẹp. Điều này tạo ra tình huống, một đội bóng chỉ còn 9 người phải chống lại với đối phương mạnh và nguy hiểm”.

Sir Alex FfergusSon: “Lâu nay, sơ đồ 4-4-2 được nhiều người cho là mẫu mực là vì nó tốt hơn các sơ đồ khác khi tạo ra sự cân bằng cho các vị trí trên sân”.

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm