Ngày 28/9/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh ký Quyết định số 2528/QĐ-BVHTTDL quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thể dục thể thao Việt Nam. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Quyết định số 619/QĐ-BVHTTDL ngày 11/3/2025.
Từ quyết định này đặt ra câu hỏi lớn: Thể thao Việt Nam phải phát triển theo cách nào để vừa cạnh tranh ở các đấu trường quốc tế, vừa nâng cao thể chất của cả dân tộc?
Câu trả lời không thể chỉ nằm trên bảng tổng sắp huy chương. Thành tích tại SEA Games, ASIAD và Olympic có ý nghĩa quan trọng, nhưng mục tiêu cao nhất của chính sách thể dục thể thao phải là con người Việt Nam khỏe mạnh, có điều kiện vận động và duy trì thói quen tập luyện suốt đời.
Nhìn thể thao như một hệ thống phát triển con người
Quyết định 2528 giao Cục Thể dục thể thao Việt Nam tham mưu và thực thi chính sách trên nhiều lĩnh vực: Thể thao cho mọi người, giáo dục thể chất và thể thao trường học, thể thao thành tích cao, hợp tác quốc tế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, y học thể thao, phòng chống doping và chuyển đổi số.
Các nhiệm vụ ấy không tồn tại riêng lẻ. Trẻ em được vận động đúng cách trong trường học là nền tảng cho sức khỏe cộng đồng, đồng thời mở ra cơ hội phát hiện tài năng. Câu lạc bộ và hệ thống thi đấu địa phương giúp tài năng được nuôi dưỡng. Khoa học huấn luyện, y học thể thao và các giải đấu quốc tế giúp vận động viên trưởng thành ở trình độ cao hơn.
Ngay cả khi phần lớn trẻ em không trở thành vận động viên, việc các em hình thành thói quen vận động vẫn là một thành tựu của thể thao. Một nền thể thao mạnh phải tạo ra cả những nhà vô địch lẫn những thế hệ công dân có thể lực tốt.
Bởi vậy, cần nhìn thành tích đỉnh cao và thể thao cho mọi người trong cùng một chiến lược, nhưng có mục tiêu và thước đo phù hợp cho từng lĩnh vực. Huy chương cho thấy năng lực cạnh tranh của một nhóm tinh hoa; sức khỏe thể chất cho thấy chất lượng phát triển của cả xã hội.
Có thể chấp nhận khoảng trống thành tích để đi xa hơn
Thể thao Việt Nam vẫn phải phấn đấu đạt kết quả tốt ở Đông Nam Á, châu Á và Olympic. Tuy nhiên, nếu mọi lựa chọn đầu tư đều nhằm đáp ứng kỳ đại hội gần nhất, sẽ khó xây dựng được lực lượng có sức cạnh tranh bền vững trên đấu trường thế giới.
Chuyển trọng tâm sang đào tạo trẻ, nâng chuẩn huấn luyện và đầu tư cho những nội dung có triển vọng Olympic có thể tạo ra khoảng trống thành tích ở một số môn trong một giai đoạn. Đây là khả năng cần được nhìn nhận thẳng thắn. Một chương trình phát triển vận động viên trong 8 hoặc 10 năm không thể được đánh giá đầy đủ chỉ sau 1 mùa giải.
Chấp nhận độ trễ không có nghĩa là hạ thấp yêu cầu thành tích. Ngược lại, từng môn cần có lộ trình rõ hơn: Hiện có bao nhiêu vận động viên trẻ đạt chuẩn quốc tế; họ được thi đấu với đối thủ mạnh thường xuyên đến đâu; khoảng cách kỹ thuật, thể lực và tâm lý thi đấu so với nhóm hàng đầu nằm ở đâu. Kết quả mỗi giải phải được đánh giá cùng với chất lượng lực lượng kế cận.

Mục tiêu của thể thao Việt Nam trong thời kỳ mới phải là nâng cao sức khỏe toàn dân cũng như thành tích trên đấu trường quốc tế. Ảnh: TTXVN
Đưa khoa học vào trung tâm của quá trình huấn luyện
Khoản 10 Điều 2 của Quyết định 2528 nêu nhiệm vụ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; y học thể thao, chuyển đổi số và phòng chống doping. Đây là một cơ sở quan trọng để đổi mới phương thức phát triển thể thao.
Khoa học cần hiện diện trong từng quyết định chuyên môn: Tuyển chọn vận động viên, kiểm soát tải lượng, phân tích kỹ thuật, dinh dưỡng, giấc ngủ, phục hồi, phòng ngừa chấn thương và chuẩn bị tâm lý. Y học thể thao cần đồng hành với vận động viên từ giai đoạn đào tạo trẻ, thay vì chỉ can thiệp sau khi chấn thương xảy ra.
Đổi mới sáng tạo cũng không đơn thuần là mua sắm thiết bị. Một hệ thống dữ liệu theo dõi quá trình phát triển của vận động viên từ câu lạc bộ, địa phương đến đội tuyển quốc gia có thể thay đổi chất lượng tuyển chọn và huấn luyện. Muốn vậy, dữ liệu phải được cập nhật, chia sẻ có trách nhiệm và thực sự được sử dụng trong các quyết định chuyên môn.
Với thể thao cho mọi người, dữ liệu cần trả lời những câu hỏi khác: Nhóm dân cư nào ít vận động, địa bàn nào thiếu không gian tập luyện, chương trình nào giúp người dân duy trì thói quen tập luyện sau khi sự kiện kết thúc. Số giải đấu tổ chức được là một chỉ số; số người tiếp tục vận động thường xuyên mới phản ánh tác động lâu dài.
Cần một cơ chế phối hợp ở tầm quốc gia
Phát triển thể chất không phải nhiệm vụ riêng của ngành thể thao. Trẻ em cần giáo dục thể chất có chất lượng và sân chơi an toàn. Người lao động cần cơ hội vận động phù hợp với nhịp sống. Người cao tuổi và người khuyết tật cần các chương trình có khả năng tiếp cận thực chất. Những việc đó liên quan đến giáo dục, y tế, quy hoạch đô thị, giao thông và chính quyền địa phương.
Tổ chức Y tế thế giới đặt việc thúc đẩy vận động thể chất trong cách tiếp cận phối hợp giữa nhiều ngành và toàn xã hội. Kinh nghiệm ấy cho thấy lời kêu gọi tập luyện chỉ có tác dụng lâu dài khi đi cùng môi trường sống thuận tiện và an toàn cho vận động.
Việt Nam nên nghiên cứu cơ chế điều phối cấp Chính phủ về phát triển thể chất và vận động suốt đời, có thể do một Phó Thủ tướng phụ trách theo phân công. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn thể thao; các bộ, ngành và địa phương cùng chịu trách nhiệm đối với những mục tiêu thuộc lĩnh vực mình quản lý.
Một cơ chế như vậy cần được đánh giá bằng kết quả cụ thể: Cơ hội vận động của học sinh, khả năng tiếp cận không gian tập luyện tại cộng đồng, mức độ tham gia thể thao của các nhóm dân cư và sự cải thiện thể chất qua thời gian.
Hợp tác quốc tế phải tạo ra năng lực ở trong nước
Quyết định 2528 cũng giao Cục thực hiện nhiệm vụ hợp tác và hội nhập quốc tế. Trong thời kỳ mới, hiệu quả hợp tác cần được nhìn từ những gì thể thao Việt Nam học được, xây dựng được và duy trì được sau mỗi chương trình.
Một chuyến tập huấn có giá trị khi phương pháp mới tiếp tục được áp dụng trong nước. Một thỏa thuận hợp tác có giá trị khi tạo ra cơ hội thi đấu, đào tạo huấn luyện viên, trọng tài, chuyên gia y học thể thao hoặc nghiên cứu chung. Một giải quốc tế được tổ chức tại Việt Nam có giá trị khi để lại năng lực điều hành và thêm cơ hội phát triển cho vận động viên trẻ.
Đối với các môn Olympic, cần lựa chọn đối tác theo nhu cầu chuyên môn và khả năng chuyển giao tri thức. Đối với võ thuật truyền thống cùng những môn thể thao mang bản sắc Việt Nam, hợp tác quốc tế còn góp phần quảng bá văn hóa và mở rộng cộng đồng thực hành. Số lượng biên bản ký kết không thể thay thế cho kết quả thực chất.
Thước đo cuối cùng là một dân tộc khỏe mạnh
Để triển khai tầm nhìn dài hạn, ngành thể thao cần theo dõi đồng thời 2 nhóm kết quả. Một nhóm phản ánh thành tích thi đấu: Chất lượng vận động viên trẻ, mức độ cạnh tranh ở châu Á và thế giới, khả năng duy trì lực lượng qua các chu kỳ Olympic. Nhóm còn lại phản ánh nền tảng xã hội: Người dân có được tập luyện thường xuyên hay không, trẻ em có phát triển thể chất tốt hơn không, người cao tuổi có thêm cơ hội vận động an toàn không.
Quyết định 2528 xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về thể thao. Bước tiếp theo là chuyển những nhiệm vụ đó thành chương trình hành động có ưu tiên, có phối hợp và có khả năng theo đuổi qua nhiều nhiệm kỳ. Thể thao Việt Nam cần bước vào mỗi cuộc thi với khát vọng chiến thắng. Nhưng khi hoạch định tương lai, tầm nhìn phải vượt ra ngoài bục trao huy chương. Một dân tộc khỏe mạnh, biết vận động và có điều kiện tập luyện suốt đời chính là nền móng sâu nhất để sản sinh những nhà vô địch bền vững.
SEA Games, ASIAD và Olympic cũng cần được nhìn bằng những mục tiêu khác nhau. SEA Games kiểm tra sức cạnh tranh trong khu vực. ASIAD cho thấy vị trí trước các cường quốc thể thao châu Á. Olympic đòi hỏi năng lực đạt chuẩn toàn cầu. Không thể dùng một thước đo duy nhất cho cả 3 đấu trường rồi điều chỉnh chiến lược sau mỗi kỳ đại hội.
TS, nhà báo Võ Danh Hải - Phó Chủ tịch Hiệp hội Võ thuật Thế giới; Phó Chủ tịch Hội Khoa học TDTT Việt Nam