Chỉ trong vòng một thập niên, bóng đá Việt Nam đã có 4 đội tuyển khác nhau giành vé dự World Cup. Cùng thời gian đó, không đội bóng Đông Nam Á nào có được thành tích tốt hơn. Trong bức tranh chung của thể thao Việt Nam (TTVN), có thể nói là chúng ta đã chinh phục hầu hết mọi đỉnh cao vốn trước đây tưởng chỉ là giấc mơ…
1. Hơn 4 thập kỷ hội nhập với thể thao thế giới sau ngày đất nước thống nhất, TTVN đã viết nên một hành trình đầy cảm xúc, từ những bước chân chập chững trên đấu trường quốc tế đến những khoảnh khắc khiến cả thế giới phải ngước nhìn. Có thể nói, chưa bao giờ "khả năng tiếp cận" với những đấu trường vĩ đại của nhân loại lại rõ ràng và đa dạng đến thế.
Chúng ta đã có HCV Olympic (Hoàng Xuân Vinh, 2016), HCV ASIAD, nhiều nhà vô địch thế giới, đăng cai 2 kỳ SEA Games thành công và tạo ra những cột mốc lịch sử trong môn thể thao vua: Dự FIFA U20 World Cup 2017, đội tuyển nữ dự World Cup 2023, futsal dự World Cup 2016, 2020, U17 Việt Nam vừa giành vé World Cup…
Nhìn theo chiều dài lịch sử, đó là những hành trình đáng tự hào, là kết quả của sự đầu tư kiên trì từ ngân sách Nhà nước, của nhiều thế hệ HLV và VĐV đã đổ mồ hôi, nước mắt, đôi khi cả máu, trên các đấu trường, khẳng định một khát khao chinh phục mãnh liệt của cả một nền thể thao không ngừng phát triển.
Nhìn vào bức tranh tổng thể, chúng ta có quyền tự hào khi liên tục tạo ra các thế hệ VĐV, ở nhiều môn chơi khác nhau, bao gồm hệ thống môn Olympic. Từ điền kinh đến chèo thuyền, bóng đá đến billiards, wushu hay từ bắn súng đến cử tạ, cờ vua… Hệ thống đào tạo từ năng khiếu đến chuyên nghiệp, dù còn nhiều bất cập, nhưng vẫn vận hành đủ để tạo ra những "viên ngọc thô" và mài giũa họ thành những tinh hoa ở một thời điểm nhất định.
Vấn đề nằm ở chỗ: chúng ta đã biết cách "đi đến" đỉnh cao, nhưng dường như chưa bao giờ học được cách "ở lại" để "đi tiếp".
Từ chiếc huy chương Olympic của võ sỹ Trần Hiếu Ngân năm 2000, đến HCB cử tạ của Hoàng Anh Tuấn năm 2008 là những bước đệm trước khi xạ thủ Hoàng Xuân Vinh hoàn thành kỳ tích Vàng tại Thế vận hội.
Nhưng sau ánh hào quang của Xuân Vinh ở Rio de Janeiro, TTVN lại bước vào chu kỳ trắng tay các kỳ Olympic tiếp theo (Tokyo 2020, Paris 2024), thậm chí phải hạ mục tiêu từ đoạt huy chương thành cố gắng giành đủ chỉ tiêu dự Olympic.
Ở ASIAD cũng vậy: Từ 4 HCV năm 2002, đến nay con số vẫn quanh quẩn từ 3-5 HCV. Thậm chí, các mục tiêu dài hạn cũng chưa thể đưa ra các con số dự báo có tính bứt phá nào thực sự để thu hẹp khoảng cách so với các cường quốc trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, hay chính đối thủ cùng trình độ Philippines, Malaysia.
Ở đấu trường SEA Games, dù bảng tổng sắp luôn nằm trong Top 3, nhưng đó là câu chuyện của sự đầu tư có trọng tâm và lợi thế sân nhà. Một khi bước ra biển lớn, những "cá voi" Việt Nam lại trở nên khiêm tốn lạ thường.
2. Điều nghịch lý là trong bối cảnh đất nước đang phát triển như vũ bão, kinh tế tăng trưởng, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, chúng ta thậm chí đang xây dựng những sân vận động đạt tiêu chuẩn World Cup hay các trung tâm huấn luyện hiện đại, nhưng các "đòn bẩy" cốt lõi cho thể thao thành tích cao dường như vẫn giậm chân tại chỗ.
Tài chính đầu tư vẫn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước, chưa thể vận hành một nền kinh tế thể thao thực thụ để phát triển hệ thống thi đấu chuyên nghiệp. Công nghệ hỗ trợ huấn luyện, phân tích dữ liệu, y học thể thao còn thô sơ so với các nước tiên tiến.
Hoàng Xuân Vinh về nước trong vòng vây của truyền thông và người hâm mộ sau thành tích giành HCV tại Olympic Rio 2016. Ảnh: Tuấn Tú
Cơ hội để VĐV ra nước ngoài tập huấn dài hạn, hoặc mời chuyên gia giỏi về làm việc lâu năm, vẫn chỉ là những 'lát cắt" mang tính thời điểm hơn là đầu tư dài hạn.
Bóng đá là tấm gương phản chiếu rõ nhất. Đội tuyển quốc gia dưới thời HLV Park Hang Seo đã tạo ra cơn địa chấn: Vô địch AFF Cup, vào tứ kết Asian Cup, lọt vào vòng loại cuối cùng World Cup khu vực châu Á.
Nhưng ngay cả trong giai đoạn rực rỡ nhất đó, không một cầu thủ nào đủ sức bật ra nước ngoài thi đấu thường xuyên ở một giải đấu đỉnh cao. Không phải vì bóng đá Việt Nam thiếu tài năng cá nhân, mà vì thiếu nền tảng để duy trì ở đẳng cấp cao hơn.
Còn ở cấp độ CLB trong nước, nghịch lý càng rõ hơn. Những cầu thủ đá xuất sắc cho đội tuyển, về lại đội bóng của mình thì chìm vào một guồng máy tập luyện không đủ cường độ, thi đấu trong một giải đấu không đủ áp lực, và dần dần, phong độ bào mòn theo từng mùa giải.
Hệ thống đào tạo trẻ cho ra những cầu thủ tiềm năng, nhưng môi trường phát triển sau đó lại không đủ sức giữ họ ở đỉnh cao. Đội tuyển U thành công, nhưng khi lên đội tuyển quốc gia, đẳng cấp lại chững lại như bị tường kính vô hình chặn đường.
Bóng đá nữ và futsal là 2 câu chuyện tiến bộ thật sự đáng khâm phục. Nhưng ngay cả 2 nhánh này cũng đang đối mặt với cùng một thực tế: các đối thủ trong khu vực đang bắt kịp, thậm chí bắt đầu vượt qua, bởi vì họ đầu tư vào hệ thống, trong khi chúng ta vẫn đang chủ yếu chờ đợi sự xuất hiện của những cá nhân đặc biệt.
Và đó chính là cái bẫy lớn nhất của thể thao Việt Nam: Chúng ta xây dựng thành tích trên vai những người đặc biệt, rồi khi thế hệ đó qua đi, chúng ta lại bắt đầu chờ đợi lứa tiếp theo. Trong khoảng thời gian chờ đó, hệ thống xung quanh, chế độ đầu tư, công nghệ tập luyện, điều kiện thi đấu quốc tế, y học thể thao, gần như đứng yên. Và cái vòng lặp cứ tiếp tục: Đến được đỉnh, không ở lại được, rồi mất nhiều năm để trở lại.
U17 Việt Nam là đội tuyển mới nhất của thể thao Việt Nam giành quyền tham dự giải đấu tầm cỡ thế giới là World Cup
3. Những thay đổi đã xuất hiện. Từ chiến lược tổng thể của thể thao quốc gia đến từng chiến lược riêng của bóng đá, điền kinh hay chương trình đầu tư trọng điểm cho thành tích Olympic, ASIAD. Những chính sách về tiền thưởng và bồi dưỡng tập luyện, cũng đã cải thiện mạnh mẽ… Đó là cơ hội, nhưng cũng là thách thức.
Và đó chính là bản chất của câu chuyện "lên đỉnh và ở lại". Chúng ta không thiếu tài năng, nhưng đã đến lúc cần có những đòn bẩy thật sự, tài chính đầu tư bài bản, ứng dụng công nghệ vào huấn luyện, cơ hội tập huấn dài hạn ở nước ngoài, hệ thống y học thể thao hiện đại, thu hút chuyên gia nước ngoài.
Chúng ta không thiếu tiền, có lẽ cái thiếu là một tầm nhìn hệ thống để chi tiền đúng chỗ, đúng thời điểm, đúng mục tiêu để xã hội hóa thực chất, doanh nghiệp đồng hành lâu dài, có quỹ đầu tư cho thể thao đỉnh cao.
Để làm được điều đó, chúng ta phải chuyển dịch từ tư duy "chờ đợi nhân tài" sang tư duy "chế tạo thành tích" bằng hệ thống. Nhìn sang các nền thể thao tiên tiến, họ không đợi một nhà vô địch tự sinh ra, họ tạo ra một quy trình khoa học để bất cứ VĐV nào đi qua bộ lọc đó cũng đều đạt đến một chuẩn mực cận đỉnh cao.
Thực tế đang cảnh báo chúng ta một cách nghiêm khắc: việc tái lập các thành tích cũ đang ngày một khó hơn, khoảng thời gian chờ đợi giữa các thế hệ ngày một lâu hơn. Nếu không chịu thay đổi, tấm HCV Olympic của Hoàng Xuân Vinh hay chiếc vé World Cup của đội tuyển nữ sẽ mãi là những đỉnh thiên sơn sừng sững mà vài mươi năm sau chúng ta vẫn chỉ biết ngước nhìn và hoài niệm.
Câu hỏi đặt ra lúc này, khi đất nước đang trong kỷ nguyên vươn mình, kinh tế tri thức và hội nhập sâu rộng, là liệu TTVN phải chăng cần một tầm nhìn mới, một sự chỉnh lại thước ngắm? Không phải đếm số lượng huy chương hay số lần dự World Cup, mà là xây dựng một chiến lược để "đi đến và trụ lại".
Lấy bài học của bóng đá nữ. Từ năm 2014 đến 2022, các cô gái của chúng ta miệt mài tìm vé dự World Cup thông qua suất play-off tại Asian Cup. Trong khi đó, chỉ cần một chính sách về nhân sự, Philippines với các cầu thủ sinh ra ở nước ngoài đã "qua mặt" về thành tích, dù hệ thống thi đấu nội địa của chúng ta có từ năm 1998. Chừng đó thời gian, hệ thống của bóng đá nữ Việt Nam không thay đổi, đơn giản là chúng ta sẽ chậm chân hơn.
Hoặc chính chiếc vé dự World Cup của U17 cũng đáng để suy nghĩ. Vui mừng thì đúng rồi, nhưng công bằng mà nói, với một nền bóng đá đã từng có U19 dự World Cup cách đây không lâu thì chuyện U17 đoạt vé thì lẽ ra…cũng bình thường. Việc chúng ta vui lớn, ở khía cạnh nào đó, là không ổn. Có vẻ như đó là khoảnh khắc bùng nổ bất chợt, chứ không phải là lẽ tự nhiên của nền bóng đá có căn cơ.
Lá thăm đưa đội tuyển U17 Việt Nam rơi vào bảng G cùng U17 Mali, U17 Bỉ và U17 New Zealand tại U17 World Cup 2026. Với một đội lần đầu tiên dự World Cup trẻ như U17 Việt Nam, đây là bảng đấu mang đến cả thách thức lớn lẫn cơ hội tạo bất ngờ.
FIFA không điền tên đội tuyển U17 Việt Nam vào danh sách phân nhóm hạt giống cho lễ bốc thăm World Cup U17 2026 và Liên đoàn bóng đá Việt Nam ( VFF) đã có những phản hồi chính thức.
Tấm HCV Olympic đầu tiên và danh giá nhất mang tầm thế giới của thể thao Việt Nam thuộc về xạ thủ Hoàng Xuân Vinh tại Olympic Rio 2016 (Brazil). Ông giành HCV nội dung 10m súng ngắn hơi nam với tổng điểm 202.5, thiết lập cột mốc lịch sử cho thể thao nước nhà trong hành trình 80 năm hình thành và phát triển.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất